Ngày 11-03-2011
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Liên Hệ
Lm Vũđình Tường
07:22 11/03/2011
Chương đầu sách Sáng Thế Kí tường thuật sự việc Chúa tạo dựng con người phỏng theo hình ảnh Chúa. Trình thuật cho biết từ nguyên thuỷ Chúa lấy bùn đất tạo nên con người và thở hơi vào lỗ mũi ban Thần Khí Chúa cho con người. Nhờ Thần Khí đó mà con người có sự sống.

Nguyên việc sáng tạo cũng đủ cho biết con người có quan hệ rất mật thiết với vũ trụ do Chúa tạo dựng. Đây là lí do chính giải thích tại sao con người lại có khuynh hướng yêu mến, quyến luyến trần thế.

Nguyên do

Ngoài ra, thân xác con người bởi đất mà ra. Con người nhận biết mình là bụi tro và sau cuộc đời khổ ải này sẽ trở về bụi tro. Nói cách khác thân xác con người là một phần của vũ trụ do Chúa tạo thành. Yêu thích vật chất, của cải thế gian chính là yêu thích cái cội nguồn thân xác trần thế của chính mình.

Chúa phán cho nhân loại con người hãy làm chủ chim trời, cá biển và những sinh vật trên mặt đất. Con người thi hành giáo huấn tích cực đến độ cạnh tranh, tranh nhau làm chủ và ngay cả tàn sát nhau để được quyền làm chủ trên đất, biển và không gian. Thực ra con người được mời gọi làm quản gia, chứ không phải là chủ gia. Nhiệm vụ của quản gia là bảo quản, coi sóc, bảo vệ, canh tác và hưởng thành quả của lao tác. Đòi làm chủ vượt quá quyền hạn của quản gia. Mầm mống của phản loạn chống lại chủ nhân vũ trụ, chống lại Đấng sáng tạo ra vũ trụ. Mình Chúa làm chủ tất cả. Mọi người đều là quản gia, công nhân của vườn nho Chúa.

Con người nhận biết của cải, vật chất trần thế rất thực tiễn. Hữu dụng cho cuộc sống và thoả mãn những nhu cầu con người. Chính những gì trái đất cung cấp làm con cho người trở nên thèm khát và muốn chiếm đoạt, chiều theo lòng ham muốn của cải.

Đam mê

Khuynh hướng đam mê của cải, chức tước tác động mãnh liệt cho một số thành phần vì họ khát khao có chúng. Với họ bao nhiêu vật chất cũng chưa vừa, sống bao lâu cũng chưa đủ. Vì ham của cải, vật chất trần thế nên họ chối bỏ Đấng sáng tạo vũ trụ. Đơn giản nhất là chối bỏ Ngài hiện hữu, để thay Ngài làm chủ vũ trụ. Từ đó họ tự do xưng mình là chủ mọi loài, kể cả sự sống. Tự trao trong tay quyền ban phát sự sống cho người khác. Để ai sống người đó sống, bắt ai chết người đó chết. Quả là lộng quyền, lộng ngôn. Ngày nào đó họ cũng chết, không cứu được mình. Phúc Âm vạch rõ ma quỉ cầm đầu kẻ lộng quyền, lộng ngôn khi nó hứa cho Đức Kitô vinh quang phú quí trần thế. Nó không có gì để cho ngoại trừ gian dối, lừa gạt. Chính lừa gạt, gian dối này mà nó hứa cho cả những gì nó không có. Điều ngạc nhiên là có người tin lời hứa hão huyền. Sẵn sàng gây chiến với anh em. Dùng thủ đoạn đối xử với nhau. Thủ đoạn đi chung với chém giết, thủ tiêu, khai trừ. Chết chóc, khổ đau, goá bụa, con côi, phát sinh từ lòng tham, từ đam mê làm chủ sinh ra.

Vũ trụ do Chúa tạo dựng là nơi con người sống và là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cho thân xác. Vì thế con người cố gắng làm chủ càng nhiều của cải càng tự tin. Họ tin vật chất bảo vệ sự sống vì nó nuôi và làm đẹp thân xác. Chúa trao quyền cho con người làm chủ chim trời cá biển và mọi sinh vật trong mặt đất. Lời chúc phúc này chung cho mọi người, không riêng cho một cá nhân, tập thể nào. Mọi cố gắng tranh giành cho riêng mình, tập thể mình đều sai. Tranh chấp, bất hoà và tàn sát lẫn nhau vì của cải, vật chất; danh vọng, chức tước vì thiếu ơn Chúa và sa vào cạm bẫy, chước cám dỗ của satan.

Cám dỗ

Ma quỉ biết rõ lịch sử hình thành nhân loại ra sao. Bởi đất mà ra nên chúng dùng miếng ăn, hoa mầu ruộng đất và vinh quang phú quí trần thế cám dỗ con người. Cả ba chước cám dỗ đều có chung mục đích là lo cho thân xác: thực phẩm nuôi thân, mong nổi tiếng và lắm vàng, nhiều bạc. Vừa có tiếng vừa có miếng quả là một thách đố lớn. Tiếng và miếng đều đến từ môi miệng. Ma quỉ dậy con người quên đi con tim và nhắm vào hầu bao và bao tử. Chúng cố tình làm ngơ sự sống Chúa ban cho con người vì mục đích chúng là bóp nghẹt sự sống trường sinh.

Đức Kitô

Đức Kitô nhắc cho ma quỉ biết ngoài phần thân xác ra Chúa còn in dấu ấn tình yêu Ngài vào trong con tim ta. Nhờ dấu ấn tình yêu này mà con người có sự sống. Khi tạo dựng con người bằng bùn đất. Bùn đất đó chưa có sự sống. Sự sống chỉ xuất hiện khi Chúa thở hơi vào hình bụi đất đó. Từ đó bụi đất có sự sống do Chúa ban. Vì thế đừng quá lo lắng cho thân xác bụi đất mà hãy chú trọng vào sự sống trường sinh, cõi lòng con người. Đức Kitô nhắc con người ta sống không chỉ bởi cơm bánh mà còn do lời Chúa nữa. Cơm bánh cần cho thân xác; Lời Chúa cần cho tâm linh. Cơm bánh nuôi thân xác; Lời Chúa nuôi tâm linh.

Ngôn ngữ của môi miệng không mang lại sự sống; ngôn ngữ của con tim nối kết tình Chúa, tình người. Thiếu ngôn ngữ của con tim mọi sự sẽ trở về hư vô. Hỡi người hãy nhớ mình là bụi tro, khi qua đời thân xác cũng sẽ trở về nguồn gốc của chúng là bụi tro. Sự sống trường sinh đến từ Chúa sẽ trở về với Chúa. Vì phát xuất từ Chúa nên tâm linh ví như cành cần thường xuyên liên kết với thân là Chúa để nhận sự sống, được thánh hoá hầu sống mạnh khoẻ, tinh tuyền.

Đức Kitô xua đuổi ma quỉ và nhắc cho chúng biết Thiên Chúa có quyền bắt chúng phải tùng phục Ngài. Ngài nhắc con người cần để ý, lưu tâm đến phần tâm linh nhiều hơn vì đó là sự sống trường sinh. Thần khí đó không bao giờ chết. Một là sống thảnh thơi trong tình yêu Chúa. Hai là lạc xa tình yêu Chúa. Bị lạc nó sống trong đau khổ, khắc khoải, nửa sống nửa chết, vì nó luôn muốn tìm về cội nguồn mà không được.
 
Những chìa khóa cho sự tha thứ
Jos. Tú Nạc, NMS
08:55 11/03/2011
Mùa Chay 2011

Tha thứ thì khó đấy. Sự nhức nhối của trái tim tan vỡ, cảm xúc đớn đau, sự lăng mạ hoặc phản bội bám chặt quanh ta. Ngày nào chúng ta cũng nhớ rằng một ai đó mà chúng ta để ý đã làm điều sai trái.

Hoặc có thể chúng ta chẳng để ý đến ai. Có thể đó chỉ là một vài người vô danh, người xa lạ vắng mặt mà đã tạo cho chúng ta một quyết định đáng tiếc hoặc một chọn lựa tội lỗi để lại trong chúng ta cưu mang đau đớn suốt một đời.

Rồi chúng ta cầu nguyện cho những người đó với những lời lạnh nhạt: “Chúng con tha thứ cho những ai xúc phạm chúng con.. . ”

Được, chúng ta biết chúng ta được trợ giúp để tha thứ. Nhưng chúng ta bắt đầu từ đâu? Chúng ta làm thế nảo để tha thứ cho người nào đó mà đã xé nát con tim của chúng ta, người mà để lại trong ta nỗi đau thấm thía biết bao năm sau đó mà ta vẫn cảm thấy buốt nhói y như mới xảy đến hôm qua?

Khóa 1: cầu nguyện

Cách đây vài năm Theresa đến gặp tôi với một một vân đề. Monica, một phụ nữ cùng làm việc với cô, không thích cô và luôn nói xấu cô với những đồng sự của cô. Hằng ngày Theresa đi làm, nhìn thấy Monica và biết rằng cô ta đang nói những điều xấu xa này. Theresa không có vị thế để nói điều này với ông chủ của mình, và Monica không cho cô lúc nào rảnh trong ngày. Cô cảm thấy mình không có sự giúp đỡ và không biết phải làm gì.

Bài đọc Tin Mừng hôm ấy được trích từ Sermon trên đường Plain. Chúa Giê-su nói, “Hãy yêu kẻ thù, làm tốt cho những ai ghét anh em, hãy chúc phúc cho những người nguyền rủa anh em, hãy cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.” (Luke 6: 27-28). Điều này tương tự Tin Mừng nơi mà Chúa Giê-su dạy chúng ta hay đưa ra một cử chỉ tế nhị trên má người khác và sống theo Luật Vàng: “Hãy làm cho người khác những gì mà con muốn họ làm cho con.” (6: 31).

Nên tôi đã đề nghị rằng Theresa cho Monica một lời chúc phúc bất cứ ở đâu khi thấy cô ta tại nơi làm việc hoặc hồi tưởng nỗi đau mà Monica mâu thuẫn với cô. “Nhưng con phải làm như thế nào?” Theresa đã phản đối. “Cô ta độc ác lắm.”

“Điều đó dễ mà.” Tôi nói. “Con chỉ thầm thì những lời này một cách êm đềm tự con: ‘Lạy Chúa, hãy ban phúc lành cho Monica.’ Điều đó thật dễ dàng như khi nói, ‘Lạy Chúa, hãy đày đọa Monica.” Con chỉ thay có một từ thôi nhé!”

Nó đã đem đến một khác biệt to lớn. Theresa bắt đầu nói rằng lời nguyện cầu nho nhoi đơn giản hàng tá lần mỗi ngày, và những điều đã bắt đầu cải thiện ở nơi làm việc. Điều đó dường như Monica đã đánh mất sự tò mò chê trách cô.

Điều gì đã xảy đến đó là lời cầu nguyện bắt đầu hàn gắn nỗi trái tim của chính Theresa. Cô ta càng cầu nguyện cho người làm cô đau khổ, cô ta càng thực sự để có thể nói lên ý nghĩa đó. Nó không chỉ thực hiện để hàn gắn trái tim của riêng cô, mà nó còn bắt đầu hàn gắn khoảng cách giữa cô và Monica. Ai biết? Có thể một ngàn năm có lẽ họ trở nên đôi bạn thân thiết!

Khóa 2: Được tha thứ

Thánh Phao-lô đã viết: “Chén phúc mà chúng ta chúc phúc, phải chăng là sự tham gia trong máu Đức Ki-tô? Của ăn mà chúng ta bẻ ra, phải chăng là sự tham gia trong mình Đức Ki-tô?” (1 Corinthians 10: 16. NAB). Sự giao hòa đích thực với Đức Ki-tô là một sự tham gia, một sự lắng sâu vào trong trải nghiệm cuộc sống của sự hiện hữu Chúa Trời trong đời sống của chúng ta. Không có cách nào tốt hơn để thực hiện mà qua được những yếu tố nghi thức tôn giáo.

Vậy nếu thực sự bạn muốn được tham gia vào sự tha thứ, hãy bắt đầu bằng được tha thứ. Chạy nhanh đến nhà thờ để lãnh nhận Phép Hòa Giải vào một buổi chiều thứ Bảy trước Thánh lễ Misa hay bất cứ nơi nào mà việc hòa giải được tổ chức trong giáo xứ của bạn để giải tỏa những băn khoăn cho linh hồn bạn. Điều đó chẳng cần phải nhiều lời: “Lạy Cha, con mang nỗi cay đắng trong linh hồn con hướng tới người mà đã làm con đau đớn. Con cần được tha thứ.”

Khi chúng ta cân nhắc tất cả những điều mà Thiên Chúa đã tha thứ trong cuộc sống của chúng ta, cộng tất cả lại. Càng sâu lắng chúng ta tìm kiếm trong sâu thẳm của những linh hồn đầy tội lỗi chính mình, chúng ta càng đi sâu vào sự tha thứ. Tôi nhìn vào đời tôi, lịch sử của tôi, và tôi nhận thức được rằng tôi đã được tha thứ quá nhiều. Đại dương của sự tha thứ này trong tôi bắt đầu thặng dư trong cuộc sống của những người xung quanh tôi, những người mà cần sự tha thứ của tôi.

Sự tha thứ giống như nghi lễ Chúa Nhật, một sự trải nghiệm mà ở đó chúng ta được gọi mời tham gia đầy đủ, sinh động, chủ tâm. Khi đòi hỏi sự tha thứ trở nên một sức sống, một thực thể hữu cơ trong đời tôi, một điều gì đó đang xảy đến với tôi trong mọi lúc – lạy Chúa, con thực hiện lại điều đó – Con đang đi trên con đường của con để trải nghiệm sự hàn gắn vết thương mà sự tha thứ người khác có thể mang lại.

Khóa 3: Tuyên bố tha thứ

Cha của Miguel là một người ngược đãi, khi trưởng thành, Miguel đã chịu đựng hàng ngày những mắng nhiếc nhạo báng và làm nhục. Rồi khi anh rời ghế nhà trường và thoát khỏi cha mình, anh cố gắng để sống một cuộc sống bình thường, nhung anh đã mang nặng một nỗi đau. Những lời của cha anh không bao giờ lìa xa hẳn những suy nghĩ của anh.

Vợ của Miguel, Lucy, nói với anh rằng, anh phải tha thứ cha mình. “Nhưng bằng cách nào?” Miguel phàn nàn. Chỉ vì trong trái tim của anh không có sự tha thứ.

“Điều đó không thuộc về cảm xúc.”Lucy nói với anh. “Nó thuộc về lẽ phải và cái đẹp để thực hiện. Nó thuộc về những gì mà sẽ giúp anh được sống trong an bình.” Lucy đã cho Miguel một chiếc bảng nhỏ với những ghi chú Ghi chú (nhãn hiệu). Cứ mỗi một ghi chú cô viết: “Con tha thứ cho Bố” và dán khắp nhà, ngay cà trong nhà để xe và trong chiếc xe tải nhỏ của Miguel. Miguel cũng mang một số tới chỗ làm việc và đặt chúng quanh khu vực làm việc của mình.

Một ngàn lần một ngày, được cải thiện bằng những bảng nhỏ ghi chú của Lucy, đơn giản Miguel đã nói: “Con tha thứ cho bố.” Dần dần, qua quá trình nhiều tháng, cảm xúc khó khăn mà Miguel ấp ủ một mối hằn thù cha mình bắt đầu lắng xuống. Anh không bao giờ nói điều đó một cách trực tiếp với cha mình. Người đán ông ấy cũng không nhận được điều đó. Nhưng sự biểu đạt hàng ngày của Miguel về sự tha thứ đã tiến triển từ một cố gắng đạt được trước một thực tại. Đến lúc, anh thực sự cảm thấy rằng mình đang tha thứ người cha ngược đãi của mình.

Chắc chắn, tha thứ là điều điều khó khăn. Nhưng nó sẽ khó khăn hơn nếu không thực hiện. Độc tố của những thứ độc dược đắng cay ấy. trái tim ấy, và chủ đề của sự bất mãn chất nặng trong linh hồn. Đồng thời, sự tha thứ là thuốc mỡ để hàn gắn lành lặn nỗi đau. Từ sự đau khổ của thập giá, Chúa Giê-su dã tha thứ những kẻ đóng đinh Người. Và điều đó đã bỏ công sức vì Người.

Vậy hãy dùng ba chìa khóa này và mở cho bản thân bạn cách hàn gắn của sự tha thứ.

(“Keys to Forgiveness” – Father Paul Boudreau)
 
Hành đạo
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
17:12 11/03/2011
Abraham nói: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao? " Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơđôm."(Stk.18,32).

Tổ phụ Abraham đã nài xin Chúa tha phạt cho hai thành Xơđôm và Gômôra. Abraham đã trả giá với Chúa: Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chúa sẽ không phạt họ: "Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó."(Stk.18,26). Abraham đã rút bớt dần tới con số 10 người: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao?" Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm." (Stk.18,32).Trong hai thành phố chỉ cần kiếm được 10 người tốt lành, Thiên Chúa sẽ không phạt cả thành.

Chúng ta sống là sống cùng và sống chung với người khác. Con người có tính hợp quần xã hội. Mỗi gia đình là một đơn vị nhỏ, đơn vị nhỏ kết thành nhóm hội và những nhóm nhỏ kết hợp trở thành những cộng đoàn lớn. Chúng ta là những thành viên xây dựng nên cộng đoàn. Sống tinh thần tương trợ, đoàn kết lẫn nhau là một mời gọi khẩn thiết để bảo trì truyền thống văn hóa và hạt giống niềm tin. Trong thế giới hội nhập, chúng ta nhận ra có nhiều giá trị khác biệt trong các nền văn hóa. Sống trong xã hội muôn mầu, muôn dạng, chúng ta không thể sống co cụm, đóng khung và tách biệt khỏi dòng sống cộng đồng nhân loại. Lời cổ nhân: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Giao lưu văn hóa giúp chúng ta mở rộng kiến thức và hội nhập đời sống. Giữ lấy cái tốt của mình và học cái hay của người.

Trong đời sống đạo cũng thế, mọi người trong cộng đoàn giáo xứ có cùng chung một đức tin, một niềm hy vọng và một cùng đích. Tuy dù khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc và truyền thống nhưng chúng ta vẫn có thể chia xẻ với mọi người các giờ kinh phụng vụ, giờ cầu nguyện và cử hành thánh lễ. Mỗi thành viên trong giáo xứ đều có trách nhiệm và bổn phận góp phần xây dựng, bảo trì và thăng tiến cuộc sống chung của Giáo Hội. Không riêng người Việt Nam, hiện nay trên thế giới mở rộng sự di dân lan tràn khắp các quốc gia. Các nhóm dân tộc hòa đồng chung sống và cùng nhau kiến tạo một cuộc sống xã hội tốt đẹp hơn. Sau hơn 30 năm sống trên xứ người, chúng ta có rất nhiều kiểu mẫu cộng đoàn đã được thành lập. Có những cộng đoàn công giáo tách riêng, tự tạo cho mình một hướng đi, một cuộc sống tự lập riêng rẽ và bảo trì các sinh hoạt riêng. Có những cộng đoàn hòa nhập, liên kết với chương trình sinh hoạt chung và trở nên thành phần của giáo xứ. Có những cộng đoàn giữ được cả hai là vừa sinh hoạt với Giáo xứ vừa giữ những truyền thống đặc biệt của riêng mình. Mỗi kiểu mẫu cộng đoàn đều có những điểm tích cực và tiêu cực riêng.

Để giúp một cộng đoàn sinh hoạt sống động và hiệu qủa, chúng ta cần gắn kết với nhau trong mọi hoạt động thường ngày. Một cộng đoàn muốn phát triển tốt phải có các cộng tác viên đắc lực thường xuyên. Chúng ta thử suy nghĩ về bản thân mình, nếu muốn sống tốt và sống khỏe, chúng ta cần phải sinh họat, ăn uống, tập tành mỗi ngày. Ngày nào cũng phải ăn uống điều độ nhưng lâu lâu thêm vào những bữa tiệc thịnh soạn và những tụ họp tiệc tùng. Bữa ăn đơn sơ thường xuyên hằng ngày do vợ chồng nấu dọn mới là quan trọng. Của ăn hằng ngày sẽ nuôi dưỡng con người cả về tinh thần lẫn thể xác. Chính đây mới là chìa khóa của niềm vui và hạnh phúc.

Chúng ta đang sống trong đất nước tự do, đương nhiên chúng ta có quyền chọn lựa cách sống riêng của mình. Về cách hành đạo, không ai có quyền đòi hỏi chúng ta phải cộng tác, gom góp hay phải làm việc này việc kia. Nhưng khi chúng ta tự nguyện liên kết với nhau trở thành một cộng đoàn, mỗi người đều có bổn phận và trách nhiệm liên đới với nhau. Việc sống đạo và hành đạo là do tấm lòng yêu mến của mỗi người. Có người nói rằng họ thích sống và chơi với người ngoại quốc hơn là người Việt Nam. Đây là quyền tự do chọn lựa của mỗi người. Chúng ta biết mà trăm người trăm ý. Nhưng tục ngữ ca dao cũng nói: Có qua có lại mới toại lòng nhau. Sống trên đất khách quê người, chúng ta còn cần nương tựa nhau nhiều hơn nữa. Không chỉ vấn đề giao tế, công ăn việc làm mà còn cần đến tình người, tình đồng hương. Khi hữu sự chúng ta sẽ cần đến nhau để tìm sự nâng đỡ và chia xẻ.

Chúng ta nghĩ thế nào về sinh hoạt cộng đoàn, nếu mỗi năm chúng ta chỉ đi tham dự vài lần vào các dịp chính như lễ Giáng Sinh, Lễ Tết Nguyên Đán, Lễ Quan Thầy, Lễ Phục Sinh…Làm sao cộng đoàn có thể sống còn được qua những ngày mùa Đông tuyết giá lạnh lẽo hoặc những ngày mùa Hè oi bức nóng nảy. Quanh năm suốt tháng chúng ta cứ tìm đến những nhà thờ tiện nghi, gần gũi và thông thoáng để tham dự phụng vụ. Hằng năm chúng ta chỉ tham dự những lễ lớn đông người có tổ chức tiệc tùng, văn nghệ, hát xướng và sinh họat, có khác gì một năm chúng ta chỉ đi dự những bữa tiệc lớn. Làm sao chúng ta có thể phát triển tốt được nếu không có những bữa tiệc nho nhỏ hằng ngày.

Nhìn vào mọi sinh hoạt của giáo xứ, chúng ta nhận thấy rằng bất cứ một tổ chức nào cũng cần có những người nồng cốt. Nhóm nồng cốt sinh hoạt năng động, thường xuyên, trung tín và nhiệt tình. Nhóm này được kể như: Giả như tìm được mười người thì sao? " Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm. Có những việc rất ý nghĩa xảy ra hàng ngày ngay bên mà đôi khi chúng ta không nhận ra. Có những anh chị em tự nguyện đứng ra chịu trách nhiệm phục vụ không công cho cộng đoàn ngày này qua tháng nọ. Có các thầy cô giáo hy sinh thời giờ để hướng dẫn và dậy dỗ các con em. Các ca trưởng và ca viên hy sinh tập dượt để hát xướng phục vụ trong thánh lễ và cộng đoàn thường xuyên. Các thiện nguyện viên trong các ban ngành đoàn thể giúp sắp xếp, lau dọn và giữ trật tự hằng tuần. Có những việc không tên nho nhỏ nhưng thường xuyên đòi sự cố gắng hy sinh, nhiệt tâm và nhiệt tình làm cho cộng đoàn sống.

Một việc rất ý nghĩa là sự cộng tác của các em giúp lễ. Việc tuy đơn sơ nhưng góp phần tích cực cho việc cử hành phục vụ cách nghiêm trang và cung kính. Xứ tôi giúp, có nhiều em giúp lễ nhưng đặc biệt có hai cô, Dhariana bắt đầu giúp lễ khi còn học ở trường Trung học, nay đã ra trường Đại học và Sherry Ann sắp ra trường Cao học. Hằng tuần hai cô vẫn đến giúp lễ vui vẻ và giúp một cách trân trọng. Có lẽ các cô làm vì lòng yêu mến phục vụ và hưởng nếm sự gần gũi hơn trên cung thánh. Hoặc nhìn qua ca đoàn, số ca viên không đông lắm nhưng có số tuổi từ 15 đến 70 tuổi. Họ cùng tập và cùng chung lời ca tiếng hát phụng sự Chúa. Quả là hoa trái tốt đẹp. Thánh lễ mỗi tuần đều cần có ca đoàn hát xướng để tạo bầu khí cầu nguyện và mang lại sự sinh động phấn khởi cho mọi người. Nếu các ca viên chỉ chờ đến dịp lễ lớn mới đi tập hát thì suốt mùa quanh năm ai sẽ phục vụ đây.

"Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm”. Chúa sẽ tha cả thành nếu tìm được 10 người. Trong mỗi cộng đoàn còn có biết bao người đang hy sinh âm thầm cầu nguyện mỗi ngày. Những cụ ông, cụ bà già cả liệt lào không đến nhà thờ được vẫn có thể giúp sức cho cộng đoàn qua lời cầu nguyện. Chúng ta biết trong Giáo Hội có nhiều dòng tu chiêm niệm, các tu sĩ nam nữ dành cả cuộc đời trong nhà Kín để ăn chay và cầu nguyện cho các sinh họat của Giáo Hội. Những cụ già sống tại gia sẽ trở thành nguồn sống cho cộng đoàn giáo xứ qua lời cầu nguyện của mình. Các cụ có thể dâng lên Chúa những buồn bực, khổ đâu, cô đơn và chán chường. Đây sẽ là những hạt kinh thiêng liêng đẹp lòng Chúa. Nếu mỗi cộng đoàn giáo xứ có được những cụ già miệt mài trong đền thánh Chúa cầu nguyện cho con cái cháu chắt và mọi người thì tốt đẹp biết bao. Mẫu gương nguyện cầu của ông Simêon đã đón nhận và được ôm ẵm Chúa Hài Nhi (Lk. 2,28) và bà Anna trọn đời sống thủ tiết ở trong đền thờ cầu nguyện (Lk. 2,36).

Mỗi người chúng ta có tên trong số 10 người mà tổ phụ Abraham đã kỳ kèo với Chúa. Chúng ta đừng trao trách nhiệm cho người khác sống đạo dùm nhưng mỗi người hãy góp công sức và nhất là góp mặt với nhau để cùng xây dựng cộng đoàn giáo xứ tốt đẹp hơn. Chúng ta đừng hỏi cộng đoàn đã giúp gì cho chúng ta nhưng tự hỏi chính mình, chúng ta đã cống hiến được gì cho sự phát triển của cộng đoàn. Cộng đoàn giáo xứ càng phát triển tốt mỗi người chúng ta càng được thừa hưởng những ân huệ và hoa trái tốt. Ước chi mỗi thành viên trong cộng đoàn liên kết với nhau trong yêu thương để phục vụ và đem niềm an vui hạnh phúc đến cho mọi người.
 
Mỗi ngày một câu chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
18:01 11/03/2011
KHÔNG THỂ HOÀN TOÀN NHỜ CON MẮT

N2T


Có một người rất thích người khác nịnh nọt mình, có một người coi tướng biết tính khí của người ấy, bèn đến nhà ông ta để coi tướng, khen ông ta là người cao quý, lại còn nói:

- “Nội con mắt của các hạ, suốt đời dùng không hết”.

Người ấy nghe xong thì rất vui vẻ, giữ người coi tướng lại mấy ngày đem cơm ngon rượu tốt ra đãi, sau đó lại còn tặng quà rất hậu.

Khi người coi tướng sắp đi thì nắm chặt tay ông ta, nói:

- “Còn một câu nữa các hạ nên nhớ lấy”.

Người ấy hỏi câu gì ? Người coi tướng đáp:

- “Các hạ cũng cần phải tìm một việc mà làm, chứ không nên hoàn toàn nhờ vào con mắt”.

Suy tư:

Có người tin tưởng vào con chó của mình nên thường khoe khoang: thầy tướng nói con chó này có tướng tốt làm cho chủ nó giàu có. Thế là đi đâu cũng khoe khoang con chó và cưng nó hơn cả con mình.

Có người giận ghét cái nốt ruồi trên mặt vì nghe thầy bói nói: cái nốt ruồi này làm cho mình phải khóc suốt đời. Thế là hết đi mỹ viện này đến mỹ viện khác để phá cái nốt ruồi ấy, vậy mà càng phá bỏ thì nó càng lớn hơn, tiền mất tật mang.

Có người tin tưởng vào thầy bói, đi mua một củ hành tây về bỏ dưới giường để chồng khỏi “mèo mỡ”, thế nhưng không những chồng vẫn mèo mỡ mà còn kiếm thêm vợ bé, gia đình tan hoang.

Đừng tin tưởng vào con người bởi vì con người thường hay sai lầm và có khi lừa dối nhau; không nên tin tưởng vào con mắt của mình bởi vì con mắt sẽ có ngày thị lực kém; không nên tin tưởng vào thầy bói vì thầy bói nói láo ăn tiền, cho nên dân gian có câu: cục đất mà biết nói năng, thì miệng thầy bói hàm răng chẳng còn. Ha ha ha…

Chỉ có Thiên Chúa là Đấng đáng để cho chúng ta tin tưởng, bởi vì Ngài không hề sai lầm và cũng chẳng hề lừa dối ai, tin vào Ngài là như người thông minh đem nhà mình xây trên đá tảng, mưa to gió lớn nó cũng chẳng hề hấn gì.

-------------

http://www.vietcatholic.net/nhantai

http://vn.360plus.yahoo.com/jmtaiby

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
 
Mỗi tuần SỐNG một câu Lời Chúa (CN 1 MC A)
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
18:04 11/03/2011
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

(Năm A)

Tin mừng: Mt 4, 1-11

“Đức Giê-su đã ăn chay bốn mươi ngày và chịu cám dỗ”.


Anh chị em thân mến,

Mở đầu chủ nhật mùa chay năm nay, Giáo Hội mời chúng ta cùng đi với Chúa Giê-su vào hoang địa để chia sẻ với Ngài những thử thách do ma quỷ đem đến, đó cũng là những thử thách mà trong cuộc sống hằng ngày chúng ta đã gặp phải, đó là thích hưởng thụ vật chất, thích được quyền hành danh vọng và ước muốn dục vọng xác thịt.

Sống hưởng thụ tiền tài vật chất là một thứ ham thích của những người chỉ biết lo đến thân xác của mình làm sao cho đẹp, cho béo tốt, cho sung sức, mà không hề nghĩ rằng thân xác này rồi cũng có ngày sẽ thành tro bụi. Người sống hưởng thụ thì luôn tìm cách thỏa mãn các giác quan của mình, cho dù cuộc sống có khó khăn đến đâu chăng nữa, bởi vì họ đã quá nuông chiều theo thân xác của mình.

Ai cũng thích hưởng thụ những thành quả do tay mình làm nên và cảm thấy đó là điều hợp lý, nhưng mấy ai biết rằng vì hưởng thụ và chiều theo giác quan mà nguyên tổ của chúng ta đã phạm tội và bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng.

Có người lấy cái ăn cái uống làm một thú vui hưởng thụ, nên họ đã không ngần ngại đánh mất nhân cách của mình trong những cuộc nhậu thâu đêm với tửu và sắc; lại có người lấy việc đua đòi vật chất làm thú hưởng thụ của mình, nên họ không ngần ngại đem tiền đi mua sắm những đồ vật không cần thiết để khoe của và khoe sự giàu có của mình...

Ham danh vọng quyền hành là một căn bệnh bất trị của con người, cho nên có rất nhiều người vì ham một chút danh vọng nay còn mai mất, mà bỏ tiền của ra mua chức tước, để rồi trở thành những bạo chúa của người dân vô tội...

Ham danh vọng cũng đồng nghĩa với sự khoe khoang và kiêu ngạo, bởi vì nếu không ham mê danh vọng, thì không có chuyện khoe khoang rồi dẫn đến kiêu ngạo với mọi người. Đó là mơ ước của những người kiêu căng thích thống trị và hách dịch với tha nhân, nên họ không ngần ngại bán đứng anh em để tiến thân, và có khi, hãm hại anh em bạn bè để được nắm quyền lực, do đó mà có rất nhiều người đã trở thành kẻ lừa thầy phản bạn trong xã hội hôm nay.

Quyền hành, tự nó là một trật tự mà Thiên Chúa đã đặt ra để giữ gìn trật tự trong vũ trụ, nhưng nó cũng là một cám dỗ và là con dao bén nhọn cho những ai sử dụng không đúng quyền hạn của mình.

Ước muốn đam mê xác thịt là hậu quả của việc có tiền và có quyền, nghĩa là khi con người ta có tiền của vật chất thì bước tiếp theo là thích quyền hành, thích có danh vọng địa vị quyền hành, và khi có danh vọng quyền hành rồi thì bước tiếp theo là muốn hưởng thụ xác thịt, là thỏa mãn thú tính trong con người của mình.

Đã có biết bao nhiêu người thân bại danh liệt vì đam mê xác thịt, có biết bao nhiêu người vì một chút đam mê thỏa mãn xác thịt mà mang họa vào thân, không những ở đời này mà còn ở đời sau nữa.

Con người ta là một động vật có lý trí, biết phân biệt phải trái, biết nhận ra đâu là điều thiện và đâu là sự ác, cho nên sống tiết chế dục vọng của mình là làm cho tâm hồn của mình ngày càng nhẹ nhàng hướng lòng lên trời cao, nơi mà Thiên Chúa dành cho những ai có tâm hồn trong sạch sẽ được hưởng nhan thánh của Ngài.

Anh chị em thân mến,

Mùa chay là mùa hồng ân của Thiên Chúa đổ xuống trên tâm hồn của chúng ta, là mưa ân huệ của tình yêu xuống trên chúng ta là những con người tội lỗi.

Vật chất, danh vọng và ác thịt là ba sợi xích trói buộc chúng ta chết cứng trên bả danh lợi của thế gian, nhưng Chúa Giê-su đã quả quyết rằng: con người ta sống không bởi cơm bánh, tức là vật chất, cũng không cậy vào thế lực hay danh vọng của thế gian để tồn tại, nhưng là phải sống bằng lời của Thiên Chúa, cũng như cậy vào sức mạnh của ân sủng của Ngài để được sống đời đời.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta trong suốt mùa chay thánh này, để mỗi người trong chúng ta ý thức mình là một tội nhân không xứng đáng đón nhận ơn lành của Thiên Chúa, để chúng ta chia sẻ với cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su qua những đau khổ của tha nhân.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

---------------------

http://www.vietcatholic.net/nhantai

http://vn.360plus.yahoo.com/jmtaiby

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
 
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
18:11 11/03/2011
N2T


3. Tôi thà nhảy vào trong hầm lửa chứ không muốn phạm một tội nhỏ.

(Thánh Nicola)
 
Mỗi tuần một ''Chuyện Rất Ngắn''
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
18:13 11/03/2011
THÔNG THÁI VÀ KHIÊM TỐN

Ngài là linh mục trẻ thông minh đang làm giáo sư đại chủng viện, nơi ngài người ta thấy rõ sự thông thái, nhưng không thấy sự khiêm tốn của nhà mô phạm đang đào tạo linh mục tương lai cho Giáo Hội.

Tại sao lại có sự đáng tiếc ấy ?

Hãy nghe giáo dân và bà con của ngài nói:

- “Ngài xưng hô cha con với người lớn tuổi và vai vế lớn hơn ngài, ngài chấp tay sau lưng và ngước mặt lên trời khi nói chuyện với họ, giống như họ không tồn tại trước mặt ngài...”

Làm một linh mục vừa thông thái vừa khiêm tốn thật khó lắm thay.

-------------------

http://www.vietcatholic.net/nhantai

http://vn.360plus.yahoo.com/jmtaiby

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
 
Chuyện Phiếm Đạo Đời – Suy tư Lời Chúa trong cuộc sống
Trầng Ngọc Mười Hai
18:52 11/03/2011
Chuyện Phiếm Đạo Đời: Suy tư Lời Chúa vào trong Cuộc sống

“Kể từ em, đem cô đơn mọc lên phố vắng”

Khi em mang nụ cười khỏi đời.

Từng chiều rơi nghe như cõi lòng mình tê tái

Ngỡ như đời còn gọi tên nhau”

(Từ Công Phụng – Tuổi Xa Người)

(Ga 12: 32)

Đặt đầu đề cho nhạc bản mình vừa viết, mà tác giả lại gọi là “Tuổi Xa Người”, có quá đáng không? Bởi, tuổi người đâu có là linh hồn mà bảo xa với gần. Hoặc, tác giả đây muốn nói đến tình huống “cô đơn”, “tê tái”, một cõi lòng. Rồi lại bảo: “phố vắng”, “nụ cười”, “từng chiều rơi”, vv và vv.. Nếu là nhà Đạo, hẳn tác giả sẽ gán ghép tư tưởng ấy vào buổi nguyện cầu ngày Chay thánh, rất lễ tro?

Thế nhưng, ngay sau đó, tác giả lại đã hát:

“Ngày đó khi một lần, một lần tiếng hát

Đồng lõa đưa em vào vùng trời lấp lánh

Bằng những cánh sao trời đầy đôi mắt ngước trìu mến.

Em, em xa dần ngàn đời hoang vắng

tôi đi về buồn chưng kẽ tóc

bước chân này còn trọn kiếp hoang vu.”

(Từ Công Phụng – bđd)

À thì ra, tiếng em ca hát, nhiều lắm cũng chỉ là: “đồng loã đưa em vào vùng trời lấp lánh”, với “cánh sao trời đầy đôi mắt ngước trìu mến.” Để rồi, em “xa dần ngàn đời hoang vắng”, và “bước chân này còn trọn kiếp hoang vu…” Ôi thôi là lời lẽ, những âm nhạc. Ấy đấy, là ý tưởng với hồn thơ.

Mấy ngày nay, bần đạo cũng đi vào chốn “ngàn đời hoang vắng” có suy tư về những kiêng khem/tự kiểm, của mùa Chay. Gọi suy tư, là nói về những tư lự, rất suy và cũng nghĩ. Suy tư hay suy nghĩ về trạng huống chay kiêng, một tình tự cũng bôn ba, vương vấn, vẫn là tâm tư người nhà Đạo, như bầy tôi đây, lúc này. May thay, nhờ ơn Trên soi sáng, bần đạo nhặt nhạnh được đoạn chú giải của bậc thày đàn anh đã từng viết về động thái đúng đắn cần có vào chay mùa, như sau:

“Ngày nay phụng vụ Mùa Chay cũng không ngừng loan báo Tin Mừng. “Mầu nhiệm Vượt Qua”, “hình ảnh Con Chúa Phục Sinh” (lời nguyện làm phép tro). “Trên núi thánh, bày tỏ vinh quang Ngài (…) Ngài đã cho các môn đệ hiểu rằng phải trải qua đau khổ mới có thể đạt tới vinh quang Phục Sinh” (Tiền tụng Chúa Nhật II Mùa Chay) “dịp thanh tẩy tâm hồn và hân hoan đón mừng các mầu nhiệm Vượt Qua” (Tiền tụng Mùa Chay I); “Sức mạnh của thập giá chứng tỏ rằng thế gian đã bị lên án và quyền lực của Đấng bị đóng đinh nay được sáng ngời” (Tiền tụng Thương Khó I). “Đã gần tới những ngày Đức Kitô chịu khổ hình để cứu độ và sống lại vinh quang…” (Tiền tụng Thương khó II). Mùa Chay, hay lúc nào khác trong năm, thì Phụng vụ vẫn là xum họp quanh Chúa Kitô đã sống lại, “không còn chết nữa” (Rm 6: 4): người tín hữu không bao giờ còn phải ”đi tìm Đấng Sống giữa những người chết” (Lc 24: 5). Cách thức Vượt Qua, Vọng Phục Sinh mới cốt cách, tinh thần của cả Mùa Chay. (x. Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ Sở Hy Vọng 2002, tr. 156)”

Hiểu được tinh thần của Mùa Chay theo chiều hướng ấy, hẳn bạn và tôi, ta sẽ hát:

“Một chiều êm tay đan tay dìu nhau trên lối

Đưa em đi nhè nhẹ vào đời.

Bằng vòng tay tôi nâng niu mùa thu thức giấc

Đưa em vào ngày tháng vỗ về”

(Từ Công Phụng – bđd)

Vỗ về nhiều ngày tháng, hỡi bạn và tôi, ta hãy cứ “tay đan tay” dìu nhau mà đi. Đi vào đời, để thấy rằng đời mình/đời người, ai cũng gặp được ở đâu đó, những ý tưởng/ý hướng rất “trí lớn gặp nhau”, như sau:

“Mùa Chay là thời gian dài đằng đẵng để mọi người chuẩn bị cho lễ hội lớn lao nhất trong năm Phụng vụ: Lễ hội Phục Sinh rất quang vinh của Đức Chúa. Lễ Hội Phục Sinh, đến lượt mình, chấm dứt Tam Nhật Vượt Qua, trong đó Hội thánh cử hành tưởng nhớ nỗi niềm khổ đau đến chết của Đức Kitô, để mang đến cho loài người, ơn cứu độ.

Vào mùa chiêm niệm rất Chay, hôm nay, ta tháp tùng Chúa qua đoạn đường khổ ải để cùng Ngài Sống Lại. Có làm thế, ta mới sống thực lời Ngài gọi mời ở Tin Mừng: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” (Mt 16: 24)

Mùa Chay, là thời gian để ta quan tâm tự hỏi: mình nên làm gì hơn thêm? hơn là tự nhủ “hãy nên từ bỏ những gì”. Nếu ta sống thực những điều như thế cho thật tốt, thì có lẽ cũng chẳng cần chờ đến Phục Sinh mới hưởng được niềm vui Chúa tặng ban.

Hiểu mùa Chay theo ý nghĩa đích thực là như thế, thì rồi đối với ta, mỗi ngày trong đời sẽ là Lễ Hội Phục Sinh kéo dài để ta càng gần gũi Đức Kitô hơn qua việc từ bỏ chính mình, bằng những nguyện cầu và động thái mến thương người đồng loại.” (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly 28/2/2011, tr. 10)

“Tay đan tay, đi vào đời”, để rồi sẽ lại gặp giòng chảy khác, cũng ưu tư không kém về ý nghĩa của chay kiêng/nguyện cầu, rất như sau:

“Trong những ngày qua, tôi thường nghe những câu đại loại như: mùa chay này, ta nên từ bỏ hay hy sinh điều gì đây? Hoặc: ta sẽ làm gì để Mùa Chay này mang nhiều ý nghĩa? Người thì quyết tâm bỏ thuốc lá. Kẻ thì cố gắng bỏ uống bia. Người khác có ý định bỏ ăn đồ ngọt, vv. Nói chung, những ý ngay lành nói trên và những ước muốn hy sinh tương tự, cũng đều tốt. Tuy nhiên, các lực sĩ hay nhà thể thao không chỉ thực hiện những điều ấy trong mùa chay, thôi. Họ tập luyện và từ bỏ những gì cấm kỵ trong suốt đời mình. Vậy, ta phải làm gì cho xứng với yêu cầu của Mùa Chay?...

Thay vì đi tìm lời đáp cho câu hỏi: ta nên hy sinh/từ bỏ điều gì trong mùa Chay này, tôi nghĩ đến điều tích cực hơn, là: tự vấn xem mình sẽ làm thêm điều gì.

Nói đến việc chúng ta cần từ bỏ điều gì, vẫn có thể hiểu ngầm là ta có quyền trên điều đó. Rồi vì hy sinh, nên ta mới từ bỏ nó… Nhưng thật ra, ta có quyền gì đâu? Những gì ta có, đều do Trên ban. Trong các trình thuật kể về việc Chúa Giêsu tìm ẩn dật trong hoang địa, sa mạc không thấy nói đến việc Chúa từ bỏ. Tất cả những gì Chúa làm, là Ngài làm cho Thiên Chúa, Cha Ngài. Và từ đó, mối quan hệ giữa Ngài và Cha càng mật thiết hơn. Cả Hai như một vậy.

Từ bỏ thói hư tật xấu, là những việc làm đáng cổ võ, khích lệ. Nhưng, như thế vẫn chưa đủ. Vì, như nhành nho, chúng không chỉ bị tỉa mà còn phải đơm hoa kết trái nữa. Và, chỉ có ở trong Tình yêu và sự cộng tác của Thiên Chúa thì hoa trái mới sinh ra và tồn tại mãi.” (x. Lm Giuse Mai Văn Thịnh, CSsR, Chay Mùa Đã Đến, www.giadinhanphong.blogspot.com 10/3/2011)

Nói thế, là nói khác người nghệ sĩ cũng từng đi. Nghệ sĩ đi, không nhất thiết phải “tay đan tay” đi vào cuộc tình có những điều cần thêm hay bớt. Mà là: đi vào cuộc tình có thi ca/âm nhạc, lời chưa vui:

“Một mình đi, lang thang trong mùa đông rét mướt

nghe bơ vơ hồn mình, lạc loài

Buồn dậy lên, trên dung nhan gầy xanh của tuổi

trên tháng ngày hằn vết đời mình.

Trời mùa Đông, hong khô đi niềm tin sỏi đá

trên đôi tay này mình còn gì.

Và giòng sông, trôi đi vô tình mang tất cả

cuộc đời này, của người hay tôi.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Ở giòng sông cuộc đời, vào trời Đông, tuy “hong khô niềm tin sỏi đá”, nhưng đâu nào đã vô tình “trôi đi”, “mang tất cả, của người hay tôi”, được. Bởi, cả khi Ngài sắp sửa ra đi, Chúa vẫn quả quyết rằng:

“Và Ta,

một khi Ta được giương cao khỏi đất,

Ta sẽ kéo mọi người lại với Ta.”

(Ga 12: 32)

Xem thế thì, khi được “giương cao khỏi đất” rất Chay kiêng, là lôi kéo cuốn hút mọi người về lại với Ngài. Về với Tình yêu thương, như Chúa nói. “Giương cao khỏi đất”, để hiểu rõ hơn ý nghĩa của chay kiêng/nguyện cầu, rất đợi “Giờ”. Đợi “Giờ”, là ý nghĩa khác nữa của Chay kiêng rất thánh thiêng như nhận định của bậc thày đàn anh, từng bày tỏ:

“Mùa Chay là mùa Vọng Phục Sinh. Mùa đợi “Giờ”. Không lạ gì ngày Thứ Sáu Thánh, ngay sau khi công bố tường thuật thương khó, Hội thánh tôn vinh thập giá và với lòng tin cậy hứng khởi, lạc quan tràn trề. Hội thánh dâng lời cầu nguyện cho từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, cho khắp bàn dân thiên hạ, không trừ một ai. Ngay trên thập giá hạt giống đang sai hoa lắm quả và Chúa Kitô đang kéo mọi người lại với Ngài.” (x. Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ Sở Hy Vọng 2002, tr. 171)

Đợi “Giờ” đây, là đợi chờ “Giờ” cứu độ từ Chúa, rất Phục Sinh. Nếu Chúa không Phục Sinh, thì cũng chẳng ai cần đợi đến thế. Chẳng có gì, để phải chờ như vậy. Đợi “Giờ” đây, là đợi chờ để có được một biến đổi. Biến đổi, từ tro bụi thành tình huống có sự sống mới. Sự sống đã phục hồi nhờ vào lửa Phục Sinh của Chúa. Biến đổi, từ trạng thái vỡ đổ/tàn lụi, thành tình huống biết dựng xây. Bồi đắp. Từ trạng thái nô lệ đoạ đày sang tình huống có tự do con cái Chúa. Từ suy sụp/gãy đổ sang hoà giải/đỡ nâng. Từ tình trạng chết chóc cảnh huống sinh động. Sinh động, có lửa cháy bừng bừng sức sống, Chúa đỡ nâng.

Độ dài mùa Chay kiêng là một biến đổi rất kéo dài. Dài, những 40 ngày. 40 ngày, của đại hồng thủy. Của, lưu lạc nơi sa mạc. Của, thời gian dân Do thái cầu mong Môsê tiếp xúc với Giavê Thiên Chúa để rồi Ngài sẽ đỡ nâng. 40 ngày dài, khiến ngôn sứ Êlya cứ phải lang thang đây đó. 40 ngày dài/năm tháng, là thời gian chính Giôna đã loan báo việc Ninivê bị hủy diệt. 40 ngày dài, là thời gian Chúa chấp nhận thử thách/cám dỗ nơi sa mạc. Và, 40 ngày dài, là thời gian để mọi người thay đổi chính con người mình, tận thâm căn. Biến đổi, để tái sinh. Sống lại. Biến đổi thành người mới, Chúa ở cùng.

Và, dù gì nữa, 40 ngày Chay kiêng biến đổi, sẽ không làm mọi người khô khan, chán nản. Sơ cứng. Nhưng vẫn kiên trì đủ như lời ca của nghệ sĩ từng hát:

““Ngày đó khi một lần, một lần tiếng hát

Đồng lõa đưa em vào vùng trời lấp lánh

Bằng những cánh sao trời đầy đôi mắt ngước trìu mến…”

(Từ Công Phụng – bđd)

Cuối cùng thì, 40 ngày chay kiêng/biến đổi là tháng ngày đưa ta về với “cánh sao trời”. Với, “đôi mắt ngước trìu mến” của mẹ hiền, là Đức Kitô. Tháng ngày ấy, phút giây này, vẫn cứ là buổi chay kiêng rất tâm tịnh; ở đó, có ánh sáng vui tươi nhè nhẹ như truyện kể, để thư giãn, rất như sau:

“Alexander là vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Thời khắc ấy, những vùng ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, thanh gươm sắc bén và giàu sang không còn mang ý nghĩa gì với ông nữa. Ông nhận ra rằng: cái chết sắp sửa đến; và ông sẽ không về kịp với mảnh đất quê hương mình.

Ông bảo các sĩ quan dưới trướng rằng:

-Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba nguyện ước. Các ngươi phải thực hiện những gì ta bảo. Các vị tướng tuân lệnh trong nước mắt dầm dề.

-Nguyện ước đầu tiên của ta, là: hãy bảo thầy thuốc mang hòm rỗng của ta về một mình.

Sau khi cố hít thở một hơi, Alexander lại nói tiếp:

-Ước nguyện thứ hai của ta, là: hãy rải vàng bạc châu báu trong kho của ta suốt dọc đường đến tận nấm mồ của ta khi các ngươi mang quan tài ta ra nghĩa địa”.

Sau khi quấn mình trong áo khoác và nghỉ ngơi một lúc, ông nói tiếp:

-Nguyện ước cuối cùng của ta, là: hãy đặt 2 bàn tay ta ra ngoài cỗ quan tài.

Mọi người quanh ông đều tò mò, nhưng không ai dám hỏi lý do tại sao thế. Vị cận tướng của Alexander hôn đôi bàn tay ông rồi hỏi:

-Tâu đức Vua, hạ thần sẽ làm theo mệnh lệnh của Ngài. Nhưng xin Ngài có thể cho hạ thần biết tại sao Ngài lại muốn bề tôi làm như vậy?

Sau khi gắng thở một hơi dài, Alexander trả lời:

-Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta học được. Nguyện ước thứ nhất cốt để thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình, là cho người ta nhận ra rằng các thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho con người được. Chí ít, là khi con người đối diện với cái chết, thầy thuốc đều bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học ra được bài học này, là: biết trân quý sự sống của chính họ. Nguyện ước thứ hai của ta, là để nhắn mọi người rằng: không nên bắt chước ta theo đuổi giấc mộng làm giàu. Nếu ta bỏ cả một đời chạy theo sự giàu sang phú quý, ta sẽ lãng phí hầu hết thời gian quý báu của chính con người. Nguyện ước thứ ba của ta, là để người đời hiểu rằng: ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời thế gian này cũng với hai bàn tay trắng, mà thôi.

Nói xong ông nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng, ra đi rất thanh thản.”

Thế ấy, là kinh nghiệm của vua quan/lãnh chúa, về cuộc đời có nỗi chết. Thế ấy, là lời bàn rất “Mao Tôn Cương” của người kể để nói về những tháng ngày ròng rã khổ đau. Âu sầu. Buồn bã. Những tháng ngày dài của cuộc sống, rất đời thường. Những 40 ngày đêm chuyên chăm nguyện cầu. Những ngày tháng có cuộc sống rất bức bách. Luôn tự vấn về những hành xử của chính mình, suốt cuộc sống, dưới ánh sáng của Phục Sinh, quang vinh.

Cuối cùng thì, sống đời người cho có nghĩa, sẽ làm bạn làm tôi biết hy vọng vào những ngày vui. Vui, như Phục sinh mới. Vui, vì đã tìm ra cứu cánh cuộc đời, dù vẫn còn chìm đắm trong thương đau. Phiền muộn. Bởi, đau thương/phiền muộn rồi cũng sẽ qua đi. Sẽ, chẳng bao giờ kéo dài mãi, đến thiên thu. Bởi, Đức Chúa đã khẳng định với những kẻ quyết đi vào trầm lặng, rất Chay kiêng, rằng:

“Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất;

còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này,

sẽ giữ được sự sống đời đời.”

(Ga 12: 25)

Bởi thế nên, hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ nên hy vọng và tin vào lời Chúa hứa. Hãy cứ thực hiện Lời Ngài, mỗi ngày trong đời. Cứ sống niềm vui Phục Sinh, giữa Mùa Chay kiêng, để rồi, tự khắc sẽ thụ hưởng tương lai mai ngày, rất ngời sáng.

Trần Ngọc Mười Hai

Tự thấy nên nhắc nhở mình

nhắc nhở người,

về lời hứa của Chúa.

Như Ngài từng dặn dò bấy lâu nay.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tác phẩm thứ hai của ĐTC về Chúa Giêsu có lợi ích cho tất cả mọi tín đồ các tôn giáo khác nhau
Bùi Hữu Thư
04:59 11/03/2011
Hoa Thịnh Đốn (CNS) – Một nhóm hội thảo liên tôn, gồm các học giả Tin Lành, Công Giáo và Do Thái giáo đã thấy nhiều điều đáng kể về tác phẩm này, ngày 9 tháng Ba, và nhiều người đã gọi cuốn sách mới của Đức Thánh Cha Benedict XVI “Giêsu thành Nazareth: Tuần Thánh – Từ lúc lên Giêrusalem đến lúc Phục Sinh” hết sức “đáng khen.”

Nhóm hội thảo – được triệu tập qua điện thoại viễn liên trước ngày phát hành được mong đợi về tác phẩm thứ hai của Đức Thánh Cha “Giêsu thành Nazareth” ngày 10 tháng Ba – đã hoàn toàn đồng ý khi nhận xét rằng tác phẩm này sẽ có lợi ích cho các độc giả thuộc mọi tôn giáo và hầu như thuộc bất cứ trình độ nào về khả năng thấu hiểu Thần Học và Kinh Thánh.

Tiến Sĩ Craig A. Evans, một giảng sư môn Tân Ước tại Đại Học Acadia Divinity College ở Wolfville, Nova Scotia nói: "Tôi không ngần ngại lựa chọn tác phẩm này để cho vào danh sách các sách giáo khoa dành cho sinh viên của tôi mà đa số thuộc giáo phái Báp-tít. Cảm nghĩ của tôi là những người Tin Lành đã đọc rất nhiều và hiểu biết về Chúa Giêsu trong lịch sử sẽ phải ngạc nhiên vì thấy Đức Benedict phát biểu có vẻ giống người Tin Lành hay thuộc giáo phái Tin Mừng.”

Tiến Sĩ Benjamin Witherington III, một giảng sư môn Tân Ước cho các sinh viên theo học chương trình tiến sĩ tại Đại Học Asbury Theological Seminary ở Wilmore, Kentucky, và là một thành viên của ban giảng huấn chương trình tiến sĩ tại St. Andrews University bên Tô Cách Lan, nói cuốn sách của Đức Thánh Cha “đã không thể nào xẩy ra trước Công Đồng Vatican II” và sẽ đóng góp rất nhiều cho sự hiệp thông Kitô giáo trên cấp độ học giả.

Ông Witherington nói: "Các nhà chú giải Tin Lành đã càng ngày càng đến gần nhau hơn trong việc hiểu biết Chúa Giêsu lịch sử” kể từ Vatican II. Ông tiếp: cuốn sách của Đức Thánh Cha “giúp cho việc hiểu biết Chúa Giêsu trên bình diện lịch sử và phê bình, nhưng cũng giúp chúng ta về đức tin.”

Cuốn sách chú trọng đến các biến cố quan trọng của những ngày cuối của Chúa Giêsu, kể cả việc thanh tẩy Đền Thờ, Bữa Tiệc Ly, sự phản bội, cuộc xử án trước công nghị Do Thái và Philatô, việc đóng đanh vào thập giá, và việc Chúa hiện ra với các môn đệ sau khi sống lại.
 
Đức Thánh Cha: Hôn phối trước tiên là một Phép Bí Tích
Pt Huỳnh Mai Trác
07:38 11/03/2011
“Không một ai có quyền đòi hỏi có một đám cưới tại nhà thờ. Thánh lễ hôn phối chỉ dành cho những ai tin tưởng vào bí tích hôn phối theo như giáo huấn của Giáo Hội Công giáo, đó là lời của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI vào ngày 22 tháng 1 năm 2011.

“Quyền được làm đám cưới trong nhà thờ được quyết định khi họ có dự định thật sự trở thành vợ chồng trong ý thức căn bản cần thiết được giáo huấn theo như lề luật của Giáo Hội Công giáo. Đức Giáo Hoàng mở đầu khi chào đón các thẩm phám của Tòa Án Tối Cao của Giáo Hội, Tòa Án của Vatican đặc trách các vấn đề hôn phối khai mạc Năm Tư pháp. Hôn phối tại nhà thờ không phải là một đòi hỏi bắt buộc theo như các linh mục, như là một sự thừa nhận về hình thức mà không liên quan gì đến sự phối hợp thật sự của hôn phối."

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhấn mạnh đến sự quan trọng là phải phối kiểm kỷ càng lòng ước muốn chân thật của các ứng viên có thật sư chấp nhận những bó buộc về giá trị thật của Bí Tích hôn nhân không?.

Suy xét kỷ càng nghiêm chỉnh về vấn đề này có thể tránh được những tình cảm hoặc những lý lẽ nông cạn dẫn đôi trẻ đến những khuyết điểm mà chúng cảm thấy không có trách nhiệm trong tương lai. Hôn nhân và gia đình là những định chế cần thiết được bảo đảm và bênh vực dựa trên sự thật nếu không thì có thể dẫn đưa đến một vết thương trầm trọng trong cuộc sống chung của gia đình nhân loại”

Đức Giáo Hoàng còn nhắc nhở đến một cuộc hôn nhân theo như luât lệ là thừa nhận giữa một người nam và một người nữ, một cuộc kết hợp vợ chồng thật sự, gắn liền với cuộc sống và tình yêu.. . Về hình thức pháp lý của hôn nhân phải được liên kết chặc chẻ với bản chất của hôn nhân.”

“Quyền được làm đám cưới, không chỉ là một yêu sách chủ quan mà các linh mục thừa nhận về hình thức mà không cần suy xét về nội dung thực sự của cuộc hôn nhân. Quyền được làm đám cưới, tuy là có nghi lễ nhưng trong thực chất, nếu thiếu đi nền căn bản như Giáo Hội truyền dạy thì cũng không thành tựu. Nghi lễ đám cưới như vậy không phải là một quyền lợi và cũng không phải là một cuộc hôn nhân thật sự đã được hoàn tất.”

” Đừng bao giờ quên rằng, mục đích của hôn nhân được sửa soạn để cử hành một đám cưới thật sự, nghĩa là theo một hiến chế kết hiệp công bình và tình yêu giữa hai người, duy nhất và bất phân ly, được thánh hóa trong hạnh phúc và cùng nhau sinh sản con cái và giáo dục con cái để chúng sẽ dược rửa tội, hòng ttiếp nối với một trong những Bí Tích của Giao Ước Mới.

Đức Thánh Cha cũng nhắc đến những phương tiện và những dự phóng của những vợ chồng trong tương lai, là những sửa soạn về tiền hôn nhân có một tầm quan trọng về pháp lý: là không có gì trở ngại và có hiệu lực cùng sự hợp pháp của hôn nhân. Hợp pháp không luôn là hình thức về giấy tờ và chính là những điều căn bản về những bó buộc về nghi thức tục lệ.

Trái lại đây là một công việc mục vụ xẩy ra trong trường hợp duy nhất. . . mà người cha sở phải tỏ ra nghiêm túc với sự thật về ơn gọi của hôn nhân Công giáo. Trong ý nghĩa đó, cuộc nói chuyện riêng với từng ứng viên cũng như gặp gỡ với cả hai người trong một bầu không khí cởi mở và thanh thản. Trong cuộc gâp gở đó cần nêu lên những những bổn phận và những bó buộc về lương tâm cũng như luật lệ để có một hôn nhân có giá trị.

… Với những phương tiện khác biệt để sửa soạn cẩn thận và được kiểm chứng sau đó có những mục vụ và nghi lễ có hiệu quả đúng đắn để tránh bhững cuộc hủy hôn trong tương lai. Điều cần thiết là tránh đi những vòng lẩn quẩn là nhận làm một hôn phối không được sửa soạn cẩn thận và đúng đắn trước khi tổ chức lễ cưới, và pháp lý thường tuy là dể dàng nếu không thì đắm cưới đó không thành tựu và đó là một thất bại.

“Về vấn đề hủy hôn, ngoại trừ những diều tốt cần thiết của hôn nhân, còn phải sự dấn than một cách nghiêm túc về những quyết định của tòa án tôn trọng về sự thật của hôn nhân, cũng như phải làm sáng tỏ lúc chấp nhận khi kết hôn, nhất là đừng kiếm những duyên cớ để được hủy hôn không đúng như những lien kết vợ chồng nhưng những thực tại của cuộc sống.”

Đừng bao giờ chấp nhận những thiếu sót của đôi vợ chồng khi họ có nhều điểm không tương thuận. Sự từ chối có thể kiểm chứng với những sự kiện khi loại bỏ điều tốt lành và biện minh đó là ý định tốt.

Để kết luận, Đức Giáo Hoàng trở lại sự tương quan giữa quyền lợi và mục vụ, khuyến khích “ giúp đỡ dể dải trong mọi vấn đề, nhất là trong vấn đề hôn nhân và gia đình, một sự hòa điệu linh động giữa quyền lợi và mục vụ, làm cho thêm phong phú trong việc phục vụ cho những ai muốn thực sự đi đến hôn nhân. (nguồn tin: VIS)
 
Động đất kinh hoàng tại Nhật Bản mạnh tới 8,9 độ Richter, và sóng thần lôi cuốn làm cả hằng trăm người chết
Theo AFP
11:13 11/03/2011
NHẬT BẢN - Động đất xảy ra lúc 14h46 chiều nay (giờ Tokyo) ở ngoài biển độ sâu 10 km, cách Tokyo 382 km về phía đông bắc, tiếp theo đó có đến cả chục từng cuộc động đất tiép theo với cường độ cũng rất mạnh trên 6.0. Các địa chấn gia cho biết đây là cuộc động đất mạnh thứ 5 được ghi nhận trong lịch sử.

Tỉnh thành gần nơi động đất nhất là thành phố miền đông bắc Sendai, có tin cho biết có đến 300 xác chết được tìm thấy và còn 350 người mất tích và hơn 500 người bị thương.

Hãng tin AFP cho hay động đất hôm nay kéo theo những đợt sóng thần cao 4 mét vào bờ biển đông bắc Nhật Bản. Tại cảng Sensai, tỉnh Miyagi, sóng thần còn lên cao tới 10 mét. Truyền hình Nhật phát đi hình ảnh những ngôi nhà bị sóng thần cuốn trôi. Đường băng tại sân bay Sensai ngập nước trong khi hàng chục người phải đứng trên nóc của tòa nhà chờ. Trong khi đó, hãng tin Kyodo cho biết sóng thần cao 7 mét ập vào bờ biển ở tỉnh Fukushima.

Truyền hình NHK của Nhật Bản chiếu cảnh các cơn sóng thần đi sau trận động đất cao khoảng 4 mét vào bờ biển đông bắc Nhật Bản. Tại một số nơi, sóng thần còn lên cao tới 10 m. Sóng lớn cuốn đi nhiều chiếc xe hơi, tàu thuyền.

Tại trung tâm thành phố Tokyo nhiều tòa nhà cao tầng rung lắc nhiều nhân viên và công nhân phải tìm trỗ trú ẩn an toàn. Nhiều khói bốc ra từ các tòa nhà lớn bị hỏa hoạn ở quận Odaiba.

Báo đài cũng chiếu hình ảnh cho thấy có ít nhất 10 vụ hỏa hoạn được ghi nhận ở Tokyo. Nhiều tòa nhà rung chuyển trong vài phút. Hệ thống tàu điện ngầm ngừng hoạt động, tiếng xe còi hú khắp nơi còn dân chúng sơ tán khỏi các tòa nhà.

Có người sống trong tại Tokyo cho biết cảm tường rằng: "Chúng tôi ở trên tầng 9, rung lắc dữ dội, đồ đạc đổ khắp nơi, máy tính xập xuống bàn, tất cả mọi người chui hết xuống gầm bàn, ai cũng sợ hãi!".

Cơ quan cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương cũng phát cảnh báo đối với một loạt các vùng lãnh thổ như Đài Loan, Nga, quần đảo Mariana, Guam, Philippines, quần đảo Marshall, Indonesia, Papua New Guinea, Nauru, Micronesia và Hawaii.

Lần cuối cùng một trận động đất dữ dội xảy ra ở Tokyo là vào năm 1923 khi cơn địa chấn Kanto Vĩ đại cướp đi sinh mạng của 140.000 người, đa phần là trong các vụ hỏa hoạn. Năm 1825, động đất mang tên Ansei Edo cũng khiến thành phố này bị hư hại nhiều. Gần đây nhất, trận động đất Kobe năm 1995 khiến 6.400 người chết.

Vào năm 2004, khi địa chấn mạnh 9,1 độ Richter ập đến Indonesia, có hơn 220.000 người thiệt mạng, kéo theo sóng thần tàn phá các khu vực quanh Ấn Độ Dương.
 
Đức Thánh Cha khuyên hoán cải toàn vẹn trong Mùa Chay
Bùi Hữu Thư
12:41 11/03/2011
Đức Thánh Cha khuyên hoán cải toàn vẹn trong Mùa Chay

Vatican, ngày 10 tháng 3, 2011 (CNA/EWTN News).- Đức Thánh Cha Benedict XVI nói trong môt nghi thức đặc biệt ngày Thư Tư Lễ Tro: Tất cả mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi để trờ về với Người “với tất cả tâm hồn”.

Đức Thánh Cha dẫn đầu một cuộc rước ngang qua ngọn đồi Aventine tại Rôma trong ngày đầu Mùa Chay. Nghi thức phụng vụ này được khởi sự từ nhà thờ Thánh Anselm với các tu sĩ Dòng Biển Đức, các hồng y, giám mục và linh mục.

Đến lúc hát Kinh Cầu Các Thánh, họ bắt đầu cuộc rước dẫn đưa họ khoảng vài trăm thước tới Vương Cung Thánh Đường Đa Minh của Thánh Sabina. Ở đây Đức Thánh Cha chủ toạ Thánh Lễ.

Đức Thánh Cha nói trong bài giảng: Qua việc xức tro ngày đầu Mùa Chay, “chúng ta bắt đầu hoán cải tâm hồn để quay về chân trời của ân sủng.”

Ngài nói: Mùa Chay không phải là một thời điểm đau buồn, nhưng là “một quà tặng quý giá của Thiên Chúa và một thời điểm của sức mạnh, của ý nghiã toàn vẹn trong hành trình của Giáo Hội.

Ngài nói: “Đó là con đường Vượt Qua của Chúa Ktô.”

Đức Thánh Cha Benedict giải thích là các bài đọc của ngày Thứ Tư Lễ Tro kêu gọi một sự hoán cải trọn vẹn, “không phải là một hoán cải chóng qua, nhưng là một hành trình thiêng liêng bao gồm tới sâu thẳm các thái độ của lương tâm và giả dụ là có một hành động chân thành của việc sám hối.”

Ngài giải thích: Có một lời kêu gọi để có một thái độ chân thành hoán cải, một sự trở về với Thiên Chúa qua việc nhận thức sự cực thánh, và quyền năng tối cao của Người. Và việc hoán cải này có thể thực hiện được vì Thiên Chúa đầy lòng xót thương và nhân hậu.”

Ngài giải thích: Hoán cải không những chỉ là một “trách vụ của con người,” ngài gọi đây là “động tác của một tâm hồn thống hối bị thu hút và thúc đẩy bởi ân sủng phải đáp trả tình yêu xót thương của Thiên Chúa, Đấng đã yêu chúng ta trước.”

Đức Thánh Cha Benedict nói: “Nhân chứng Kitô làm cho các tín hữu biến thành một “điệp văn sống động. Trong nhiều trường hợp chính chúng ta là Phúc Âm duy nhất con người ngày nay hãy còn đang đọc.”

Ngài nói: Một lý do khác để sống Mùa Chay trọn vẹn nhất là trách vụ Kitô giáo, là “cung cấp một nhân chứng sống động của đức tin trong một thế giới hỗn loạn đang cần trở về với Thiên Chúa, một thế giới đang cần được hoán cải.”

Đức Thánh Cha kết luận với một lời kêu gọi phụ trội cho các Kitô hữu hãy sống thời gian này với lòng cậy trông và vui mừng.

Ngài nói: Mùa Chay là “một thời gian hùng mạnh trong chu kỳ phụng vụ hàng năm, và là một thời gian đặc biệt được dành cho chúng ta để nhìn, với một cam kết mạnh mẽ hơn về việc hoán cải, để chú ý lắng nghe Lời Chúa cẩn thận hơn, một thời gian để cầu nguyện và sám hối – để mở lòng cho tác động của Thánh Ý Chúa, để thực hành việc hãm mình quảng đại hơn, nhờ đó chúng ta mới có thể chú tâm nhiều hơn đến nhu cầu của các người lân cận của chúng ta.”
 
Top Stories
Pope 'deeply saddened' by Japan quake, tsunami
Zenit
16:32 11/03/2011
VATICAN CITY—Pope Benedict XVI was "deeply saddened" by an earthquake and tsunami that devastated parts of Japan on Friday, possibly killing more than 1,000 people, a telegram to Japan's bishops said.

The pope was "deeply saddened by the brutal and tragic consequences of the severe earthquake and tsunami that struck northeastern coastal regions" of Japan, said the telegram sent by the Vatican's number two Cardinal Tarcisio Bertone on behalf of the pope.

Benedict assured all those who were affected by the disaster that he was "close (to them) in these difficult moments", according to the letter to the head of the Japanese bishops conference, Leo Jun Ikenaga.

He said he was praying for the dead and hoped that their families and friends would find "strength and consolation".

All those providing "help, comfort and support to the victims of the disaster" have his sympathy, he added.

Japan is predominantly Shintoist and Buddhist, with only 1.5 percent of the total population, or less than two million people, Christians. Less than half a million are Catholic.
 
Tài Liệu - Sưu Khảo
Một cái nhìn về nghệ thuật thánh
+GM Matthêô Nguyễn Văn Khôi
10:37 11/03/2011
MỘT CÁI NHÌN VỀ NGHỆ THUẬT THÁNH

Khi có dịp tham quan các ngôi đền thờ nổi tiếng ở Âu Châu, như nhà thờ Đức Bà Paris và nhất là đền thờ thánh Phêrô tại Rôma, người ta không khỏi trầm trồ thán phục sự vĩ đại, tính cổ kính, dấu tích lịch sử và nhất là giá trị nghệ thuật vô cùng to lớn vượt thời gian của chúng. Mỗi đền thờ là một kho tàng vô giá đầy ắp những tác phẩm nghệ thuật từ điêu khắc đến kiến trúc, hội họa, trang trí, do các nghệ sĩ nổi tiếng sáng tạo nên để diễn tả niềm tin và những tâm tình tôn giáo của cộng đồng dân Chúa trải qua chiều dài của dòng lịch sử. Người ta chiêm ngắm, nghiên cứu, tìm hiểu, nhưng không bao giờ có thể tát cạn ý nghĩa sâu xa và phong phú của chúng. Người ta gọi đó là kho tàng nghệ thuật thánh của Giáo Hội công giáo. Để có một cái nhìn về nghệ thuật thánh, chúng ta hãy dựa vào giáo huấn của Giáo Hội[1] để tìm hiểu ý nghĩa, mục đích và cách thức thể hiện của loại hình nghệ thuật này, sau khi thử lược qua khái niệm thánh thiêng và tương quan giữa thánh thiêng với nghệ thuật nói chung.

1. KHÁI NIỆM THÁNH THIÊNG

Trong văn hóa Tây phương, từ “thánh thiêng” hay “linh thánh” (lt. sacer, sacra, sacrum) thường được dùng theo hai nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất, “thánh thiêng” là từ mà những người có tôn giáo dùng để chỉ chính Thiên Chúa, Đấng-hoàn-toàn-khác, Hữu-Thể-tuyệt-đối, Mãnh-lực-tối-cao. Những cách gọi này cho thấy một cảm nghiệm khôn tả về một Hữu Thể mà người ta gọi là Đấng Thánh hay Đấng Linh Thiêng. Con người tôn giáo cũng như mọi nền văn hóa mang tính tôn giáo đều được xác định ít nhất bằng nhận thức về Đấng Linh Thiêng hiện diện trong bầu trời, tinh tú, sông nước, thảo mộc, đất đá, v.v., nói chung trong tất cả những gì hiện hữu, như là một huyền nhiệm vừa hấp dẫn (mysterium fascinans) lại vừa đáng sợ (mysterium tremens). Sự thánh thiêng còn hiện diện nơi những gì thuộc về Đấng Linh Thiêng mà người ta quen gọi là các thực tại thánh. Tuy nhiên, trong cách hiểu của các dân tộc, cái thánh thiêng vừa có thể chỉ cái đáng kính, vừa có thể chỉ cái đáng sợ, như khi nói về các thần ác. Như thế cái thánh thiêng cho thấy một chiều kích tách biệt và dị nghĩa, vừa tốt vừa xấu. Trong Kitô giáo, cái thánh thiêng chỉ được hiểu theo nghĩa tốt và qui hướng về Thiên Chúa là Đấng Thánh.

Theo nghĩa thứ hai, “thánh thiêng” là từ dùng để chỉ một cái gì đó được dâng hiến cho thần linh, cho một mãnh lực cao siêu. Vì thế nó còn được dùng để chỉ những điều mà người ta không được xâm phạm, ngay cả không được đụng chạm đến. Từ này còn được dùng để chỉ những gì được tách riêng ra để dùng cho mục tiêu tôn giáo. Được coi là thánh thiêng những không gian và thời gian cử hành lễ tế, những đồ vật dùng trong nghi thức tôn giáo như ảnh tượng, đồ thờ, lễ phục, v.v. Vì thế, tự điển Le Petit Robert định nghĩa thánh thiêng là thuộc về một lãnh vực tách biệt, bất khả xâm phạm và là đối tượng của một tâm tình tôn kính mang tính tôn giáo; nó có liên quan đến việc thờ phượng và phụng vụ. Đối lại với thánh thiêng là phàm tục. Từ này trong tiếng La-tinh là profanum, có nghĩa là “trước” đền thờ hay bên ngoài khuôn viên đền thờ. Theo nghĩa rộng nhất, từ này chỉ những gì không thuộc về lãnh vực thánh thiêng.

Theo Tự điển công giáo phổ thông của J.A. Hardon SJ, “thánh thiêng là những gì thuộc về Thiên Chúa, khác với những gì thuộc về con người; là những gì vĩnh cửu chứ không phải phù du; là những gì của thiên giới chứ không phải của hạ giới; là những gì huyền nhiệm và vì thế không thể giải thích được bằng lý trí; là những gì vô hạn chứ không phải hữu hạn. Tôn giáo nào cũng coi thánh thiêng mới là cái tuyệt đối, bất di bất dịch; còn phàm tục chỉ là cái tương đối, vốn hay thay đổi”.[2]

Tuy nhiên, trong các xã hội sơ khai, cái thánh thiêng và cái phàm tục ít khi tách rời nhau. Theo cha Teilhard de Chardin, không có gì trong thời gian và trong không gian là phàm tục cả. Toàn thể thế giới chúng ta đang sống là một đền thờ, một thứ bí tích của Thiên Chúa. Tu sĩ và nghệ sĩ giống nhau và liên kết với nhau trong viễn tượng này. Điều được nói về thế giới thì càng được nói về con người. Nếu toàn thể thế giới một cách nào đó có thể được coi là đền thờ, là bí tích của Thiên Chúa, thì con người càng là đền thờ và là bí tích của Thiên Chúa hơn nữa, bởi lẽ qua mầu nhiệm sáng tạo và nhập thể, con người là hình ảnh của Thiên Chúa và là nơi Thiên Chúa ngự trị, vì Ngài là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Mầu nhiệm của Thiên Chúa được phản ánh nơi mầu nhiệm con người. Vì thế con người cũng là một mầu nhiệm và do đó cũng mang tính thánh thiêng.

2. NGHỆ THUẬT NÓI CHUNG VÀ SỰ THÁNH THIÊNG

Từ “nghệ thuật” trong nguyên ngữ La-tinh (ars) vừa diễn tả một khả năng sáng tạo của con người, vừa được dùng để chỉ những kết quả do khả năng ấy tạo ra. Khi phát huy nghệ thuật cùng với các ngành khác như triết học, sử học, toán học, sinh vật học, v.v., con người có thể góp phần lớn lao vào công cuộc thăng tiến gia đình nhân loại để đạt tới những giá trị cao cả của chân, thiện, mỹ, và một phán đoán có giá trị phổ quát.[3]

Chân, thiện, mỹ, liên kết chặt chẽ với nhau, và trên bình diện hữu thể cả ba chỉ là một. Tất cả những gì chân thật và tốt lành đều đẹp. “Niềm vui tinh thần và vẻ đẹp luân lý đi đôi với việc thực thi điều thiện. Cũng vậy, chân lý đem lại niềm vui và ánh huy hoàng của vẻ đẹp tinh thần. Chân lý tự nó là đẹp”.[4] Theo một nghĩa nào đó, cái đẹp là biểu hiện hữu hình của sự thiện, còn sự thiện là điều kiện siêu hình của cái đẹp.

Trong Sứ điệp gửi toàn thể nhân loại nhân dịp bế mạc công đồng Vaticanô II, các nghị phụ đã khẳng định: “Thế giới chúng ta sống ngày nay đang cần đến cái đẹp để khỏi chìm đắm vào thất vọng. Cái đẹp cũng như chân lý mang lại niềm vui cho tâm hồn con người, đó chính là những hoa trái quí giá không tàn úa vì thời gian nhưng nối kết các thế hệ lại và làm cho họ thông cảm nhau khi thán phục nhau”.[5] Các nghệ sĩ: thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia, diễn viên, là “những người say mê và phục vụ cái đẹp”.[6]

Theo Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, chân lý thường được diễn tả bằng lời nói, một sự diễn tả hữu lý của nhận thức về thực tại. Nhưng chân lý cũng có thể được diễn tả bằng những hình thức khác nhau để bổ túc cho nhau, nhất là khi vấn đề phải gợi lên lại bao hàm những điều khôn tả, những điều sâu thẳm của trái tim con người hay những điều huyền nhiệm của Thiên Chúa. Trước khi tự mạc khải cho con người bằng những lời chân lý, Thiên Chúa đã mạc khải cho họ qua ngôn ngữ hình ảnh là công trình tạo dựng với tất cả vẻ đẹp và trật tự hài hòa, “vì chính Đấng Tạo Hóa mọi loài là tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13,3).[7]

“Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1,26), con người cũng diễn tả chân lý về tương quan của mình với Thiên Chúa Tạo Hóa bằng vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật của mình. Thật vậy, nghệ thuật là một hình thức diễn tả chỉ riêng con người mới có; vượt lên trên việc cố gắng thỏa mãn mọi nhu cầu sinh tồn, là điều chung của mọi sinh vật, nghệ thuật là sự đầy tràn chan chứa, được ban tặng cách nhưng không, sự giàu sang nội tâm của con người. Xuất phát từ tài năng do Đấng Tạo Hóa ban, và từ nỗ lực của chính con người, nghệ thuật là một hình thức của sự khôn ngoan thực tiễn, kết hợp kiến thức với tài khéo léo (x. Kn 7,17), để tạo hình thể cho chân lý của một thực tại, bằng thứ ngôn ngữ có thể cảm nhận được bằng mắt thấy và bằng tai nghe. Như vậy nghệ thuật bao hàm một sự tương tự nào đó với hoạt động của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng, theo mức độ nghệ thuật được gợi hứng bởi chân lý về vạn vật và lòng yêu mến vạn vật. Cũng như bất cứ hoạt động nào khác của con người, nghệ thuật không có mục đích tuyệt đối nơi chính nó, nhưng được qui hướng về con người và trở nên cao quí nhờ mục đích tối hậu là con người”.[8]

Đặc biệt trong Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các nghệ sĩ, chúng ta đọc thấy như sau: “Bởi đó Thiên Chúa cho con người hiện hữu, giao cho con người nhiệm vụ của những nghệ sĩ. Chính qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật ấy mà hơn bao giờ hết con người cho thấy mình giống Thiên Chúa. Con người hoàn thành nhiệm vụ này xuất sắc nhất là khi uốn nắn chất thể kỳ diệu hay nhân tính của mình và khi thi hành quyền làm chủ một cách sáng tạo trên thế giới chung quanh. Với ánh mắt yêu thương, Nhà Nghệ Sĩ thần linh đã chuyển giao cho người nghệ sĩ nhân loại một chút óc khôn ngoan siêu phàm của mình, cho người này chia sẻ quyền sáng tạo của mình”.[9]

“Mọi trực giác nghệ thuật chính hiệu đều vượt xa những gì giác quan nhận biết và một khi đã lọt được tới cái nằm đằng sau bộ mặt của thực tại, nó sẽ cố gắng giải thích mầu nhiệm kín ẩn của thực tại ấy. Bản thân trực giác này cũng nảy sinh từ nơi thẳm sâu của linh hồn con người, nơi đó ta gặp thấy con người đang khát khao tìm ra ý nghĩa cho cuộc đời của mình, đồng thời thoáng thấy vẻ đẹp cũng như sự thống nhất diệu kỳ của mọi sự. Người nghệ sĩ nào cũng nghiệm thấy có một khoảng cách không sao vượt qua được giữa tác phẩm do tay mình làm ra, dù có thành công đến đâu, và vẻ đẹp tuyệt vời mà mình đã thoáng thấy trong một lúc được cảm hứng sáng tác: những gì họ cố gắng diễn tả qua tranh vẽ, tượng điêu khắc, tác phẩm sáng tác, đều chẳng hơn gì một tia sáng phát ra từ ánh sáng đã từng lóe lên trước đôi mắt tinh thần của họ trong một khoảnh khắc nào đó”.

“Mọi hình thức nghệ thuật chân chính, theo cách riêng của nó, đều là đường dẫn ta đến với thực tại sâu thẳm của con người và thế giới. Bởi vậy, đó chính là một phương cách rất hiệu quả giúp ta đến với thế giới đức tin, cho kinh nghiệm sống của con người có được ý nghĩa cuối cùng của nó. Đó chính là lý do giải thích tại sao chân lý trọn vẹn của Tin Mừng ngay từ đầu đã có sức khơi dậy sự quan tâm thích thú của các nghệ sĩ, những người do bản tính tự nhiên vốn rất nhạy cảm trước các sự “hiển lộ” của cái đẹp bên trong các sự vật”.[10]

“Để truyền đạt sứ điệp mà Đức Kitô giao cho mình, Giáo Hội cần đến nghệ thuật. Nghệ thuật có nhiệm vụ làm cho thế giới tinh thần, thế giới vô hình, thế giới Thiên Chúa, trở nên có thể cảm nhận được và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng hay. Bởi đó, nghệ thuật phải chuyển dịch những gì tự chúng vốn không thể diễn tả được thành những ngôn từ có ý nghĩa. Nghệ thuật có một khả năng độc đáo là lấy một mặt này hay một mặt khác của sứ điệp, rồi chuyển dịch thành một cái gì đó có màu sắc, hình dáng và âm thanh, để nuôi dưỡng trực quan của những người đến xem hay đến nghe. Nghệ thuật làm việc này không phải bằng cách đánh mất đi giá trị siêu việt và hào quang mầu nhiệm của sứ điệp”.[11]

“Cái đẹp là chìa khóa mở cửa mầu nhiệm và là tiếng gọi mời ta vươn lên cao. Đó cũng là tiếng nói mời gọi ta cảm nếm cuộc sống và mơ về tương lai. Chính vì thế cái đẹp của thụ tạo không bao giờ có thể làm ta cảm thấy thỏa mãn hoàn toàn. Nó khơi dậy nỗi nhớ nhung thầm kín về Thiên Chúa, một sự thật mà chỉ có người say mê cái đẹp như thánh Augustinô mới diễn tả được một cách tuyệt vời như sau: “Con yêu Chúa quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất xưa mà rất mới; con yêu Chúa quá muộn màng” (Tự thuật 10,27)”.[12]

Qua các giáo huấn trên đây của Giáo Hội chúng ta thấy giữa nghệ thuật và sự thánh thiêng có một mối tương quan chặt chẽ với nhau. Trước hết, có thể nói trong nghệ thuật có hàm chứa một chiều kích thánh thiêng, vì nó phản ánh hành động sáng tạo đầy huyền nhiệm của Thiên Chúa. Chắc hẳn vì thế mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dám khẳng định rằng chính qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà hơn bao giờ hết con người cho thấy mình giống Thiên Chúa.

Tiếp đến, tất cả mọi hình thức nghệ thuật chân chính đều được coi như phương tiện để diễn tả các thực tại thánh thiêng, vượt trên thế giới vật chất này. Quả thế, mọi nghệ thuật đều vượt trên cái thực tại trước mắt, biến đổi thực tại sống, đem lại luồng sinh khí mới cho vật chất mà nó uốn nắn, dẫn đưa con người vào những chiều kích sâu thẳm của con người và thế giới, mà con người chỉ biết chiêm ngưỡng với lòng say mê. Nó bắt buộc con người phải luôn chuyển động trong những gì đã biết và trong sự khám phá liên lỉ thế giới huyền nhiệm và đầy ắp ý nghĩa đối với con người.

Cuối cùng, cũng trong chiều hướng ấy nhưng đẩy xa hơn nữa, nghệ thuật phục vụ cái thánh thiêng vì nó dẫn đưa con người vào mối tương quan thân tình với Thiên Chúa là huyền nhiệm trên mọi thứ huyền nhiệm khôn tả; nó gợi nhớ Thiên Chúa như nguồn cảm hứng và mời gọi con người vượt qua cái hữu hình đang phô bày trước mắt để nhìn thấy dấu ấn của chính Thiên Chúa như Đấng đang phả hồn vào tác phẩm nghệ thuật. Mọi nghệ thuật chân chính, cho dù không thể hiện các đề tài tôn giáo, vẫn có thể được coi như một chiếc cầu nối liền với kinh nghiệm tôn giáo, bởi vì sự tìm kiếm vẻ đẹp và công trình của trí tưởng tượng trong nghệ thuật có thể được coi như một lời đáp trả tiếng gọi của thực tại thánh thiêng. Các tác phẩm nghệ thuật giúp chúng ta cảm nghiệm được một điều gì đó của mầu nhiệm Thiên Chúa. Có thể nói một nghệ sĩ đích thực tự thâm tâm luôn là một người tôn giáo, cho dù ông ta rất ít khi thực hành.

Cuối cùng, tính thánh thiêng của nghệ thuật đã tạo nên mối liên hệ chặt chẽ giữa nghệ thuật và nghi thức tôn giáo: nghệ thuật được dùng để diễn tả điều mà các nghi thức không diễn tả được. Mối liên hệ này có thể được tìm thấy nơi tất cả các nền văn minh trên thế giới. Không phải là táo bạo khi nói rằng nghệ thuật ngay từ thời cổ đại đã là phương tiện liên lạc giữa con người và thế giới thần linh, như các đền đài, ảnh tượng, thi ca, vũ điệu, nơi các tôn giáo cổ xưa đã làm chứng.

3. NGHỆ THUẬT THÁNH: Ý NGHĨA, MỤC ĐÍCH VÀ CÁCH THỨC THỂ HIÊN

Nếu nghệ thuật nói chung có liên quan đến sự thánh thiêng, thì chúng ta phải hiểu thế nào về một ngành nghệ thuật có tên gọi đặc biệt là “nghệ thuật thánh”? Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế về Phụng Vụ thánh đã khẳng định: “Trong những hoạt động cao quí nhất của tài trí con người, đặc biệt phải kể đến mỹ thuật, nhất là nghệ thuật tôn giáo và tột đỉnh chính là nghệ thuật thánh. Tự bản tính, nghệ thuật thánh nhằm diễn tả một cách nào đó vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa qua những tác phẩm nhân loại. Nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và tôn vinh hơn, một khi những tác phẩm đó không nhằm chủ đích nào khác ngoài sự tích cực góp phần hướng tâm trí con người về cùng Chúa cách đạo đức”.[13]

3.1. Ý nghĩa và mục đích

Trên đây chúng ta đã nói rằng mọi loại hình nghệ thuật đều có liên quan một cách nào đó đến sự thánh thiêng. Tuy nhiên, trong thuật ngữ công giáo, không phải tất cả mọi loại hình nghệ thuật đều được gọi là “nghệ thuật thánh”. Theo giáo huấn trên đây của công đồng Vaticanô II, nghệ thuật thánh là một trong những hoạt động cao quí nhất của tài trí con người. Đó là một loại hình nghệ thuật thuộc ngành mỹ thuật. Dĩ nhiên mọi nghệ thuật đều có liên quan đến cái đẹp, tuy nhiên cái đẹp mà mỹ thuật diễn tả không phải là cái đẹp của âm thanh, văn từ hay diễn xuất, mà là cái đẹp của đường nét, hình ảnh và màu sắc. Ngoài ra, cái đẹp mà nghệ thuật thánh muốn diễn tả không thuộc lãnh vực trần tục, nhưng thuộc lãnh vực tôn giáo; vì thế nghệ thuật thánh là một phần của nghệ thuật tôn giáo, hay đúng hơn là mỹ thuật tôn giáo. Mỗi tôn giáo đều được phản ánh trong các tác phẩm mỹ thuật như đền đài, các tác phẩm điêu khắc, các họa phẩm, kể cả ảnh nghệ thuật, với những đề tài rất phong phú. Mỹ thuật tôn giáo mà chúng ta đề cập ở đây là mỹ thuật Kitô giáo mà đỉnh cao là nghệ thuật thánh. Như thế, nghệ thuật thánh là loại hình mỹ thuật cao nhất có thể được coi như chóp đỉnh của kim tự tháp mỹ thuật tôn giáo. Nghệ thuật thánh là nơi gặp gỡ giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, giữa nhân loại và mầu nhiệm thần linh.[14]

“Giáo Hội luôn xem thừa tác vụ nghệ thuật thánh với sự quí trọng lớn lao nhất và cố gắng hiểu rằng ‘tất cả mọi thứ được dành riêng sử dụng cho phụng tự thánh đều thực sự xứng đáng, thích hợp và đẹp, là những dấu chỉ và biểu tượng của thế giới siêu nhiên’. Giáo Hội qua các thế kỷ cũng đã gìn giữ kho tàng nghệ thuật thuộc về mình ấy”.[15]

Tuy nhiên không dễ dàng gì để đưa ra những tiêu chuẩn nhằm xác định một tác phẩm có thuộc về nghệ thuật thánh hay không. Một tác phẩm nghệ thuật được coi là “thánh” khi nó được tạo nên để dùng trong nơi thánh, khác với những đồ vật khác được dùng trong nơi phàm tục. Nơi thánh ấy có thể là nhà thờ, nhà nguyện, đất thánh, nơi mà các tín hữu tập trung để gặp gỡ Chúa, cầu nguyện và thờ phượng Chúa.

Ngoài ra, theo tự điển Larousse, nghệ thuật thánh là nghệ thuật tôn giáo nhằm phục vụ việc thờ phượng. Nghệ thuật thánh diễn tả tương quan với mầu nhiệm Thiên Chúa, với luân lý và mục vụ, và thể hiện cách trọn vẹn trong việc thờ phượng. Nghệ thuật Kitô giáo đạt đến đỉnh cao khi nó từ nghệ thuật tôn giáo biến thành nghệ thuật phụng tự. Hình thức thờ phượng cao nhất là phụng vụ, thường gắn liền với các nơi thánh. Theo nghĩa này, một tác phẩm nghệ thuật thánh không phải vì chính bản thân nó là thánh, nhưng là để phục vụ cái thánh thiêng. Nghệ thuật thánh bao gồm những tác phẩm được gợi hứng từ các bản văn Thánh Kinh, từ những qui chiếu tôn giáo, những tác phẩm được dùng vào việc thờ phượng.

Tuy nhiên việc thờ phượng Thiên Chúa không chỉ giới hạn nơi nhà thờ hay tại những không gian thánh công cộng, nhưng còn được thực hiện tại tư gia hay một nơi nào khác có tính riêng tư. Tại Việt Nam, thường mỗi gia đình công giáo đều có nơi đặt bàn thờ chính để cùng nhau cầu nguyện mỗi ngày và nhiều người còn đặt những ảnh tượng thánh tại các phòng trong nhà, trên bàn làm việc, ngay cả ngoài vườn hay dưới một bóng cây để giúp hướng lòng lên Chúa trong khi làm việc. Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo có dạy: “Chúng tôi ấn định với tất cả sự chắc chắn và chính đáng rằng: cũng như hình tượng cây thánh giá quí trọng và ban sự sống, các ảnh tượng đáng kính và thánh thiện, hoặc được vẽ và lắp ghép, hoặc bằng những chất liệu thích hợp khác, phải được đặt trong các thánh đường của Thiên Chúa, trên các bình thánh và y phục thánh, trên các bức tường và các bức họa, trong nhà và trên các đường phố”.[16] “Các ảnh tượng thánh, hiện diện trong các thánh đường và trong nhà của chúng ta, có mục đích khơi dậy và nuôi dưỡng đức tin vào mầu nhiệm của Đức Kitô”.[17]

Như thế, các tác phẩm nghệ thuật thánh vẫn có thể hiện diện ở khắp nơi, nhưng không phải để trang trí, mà để phục vụ tâm tình thờ phượng, và đó chính là yếu tố khiến cho nghệ thuật thánh có một địa vị trổi vượt.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II có lẽ đã khẳng định điều đó khi chú giải số 122 của Hiến chế về Phụng Vụ thánh trong bức thư của ngài gửi các nghệ sĩ: “Khi đề cập cách đặc biệt đến nghệ thuật thánh như là “đỉnh cao” của nghệ thuật tôn giáo, văn kiện này đã không ngần ngại xem công việc của các nghệ sĩ như một “tác vụ cao quí”, khi những tác phẩm của họ có khả năng phản ánh một cách nào đó vẻ đẹp vô cùng của Thiên Chúa và hướng tâm trí mọi người về với Ngài. Chính nhờ sự đóng góp của họ, “sự nhận biết Thiên Chúa được bày tỏ rõ ràng hơn, và việc rao giảng Tin Mừng trở nên dễ hiểu hơn đối với nhiều người”.[18]

Nghệ thuật được gọi là “thánh” khi nó nói lên một điều gì đó về Thiên Chúa và khi nó chu toàn một nhiệm vụ hay sứ vụ “hướng tâm trí mọi người về với Ngài”. Nếu có một tác phẩm nghệ thuật thánh thì đó là cái có sức lay chuyển chúng ta, biến đổi chúng ta và đưa chúng ta xa khỏi những gì chúng ta đang là. Có lẽ đó cũng là điều tạo nên sự tôn kính hay sợ hãi. Để có được một nghệ thuật thánh, chúng ta phải nhìn thấy ở đó sự hiện diện của siêu việt, một sự khai mở từ thế giới này sang một thế giới khác. Một sản phẩm nghệ thuật chỉ nằm trên bình diện trần thế, cho dù đẹp mấy đi nữa, vẫn không thể là một tác phẩm nghệ thuật thánh. Nghệ thuật thánh đóng vai trò của một tư tế: đưa cái thánh thiêng vào các yếu tố vật chất và nhân loại.

“Nghệ thuật thánh sẽ thật và đẹp, khi nhờ hình thức thích hợp, nó đáp ứng với ơn gọi riêng của nó: trong đức tin và trong sự tôn thờ, nghệ thuật thánh gợi lên và tôn vinh mầu nhiệm siêu việt của Thiên Chúa, vẻ đẹp siêu phàm vô hình của chân lý và của tình yêu, đã xuất hiện nơi Đức Kitô, Đấng ‘là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa’ (Dt 1,3), ‘nơi Ngài, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể’ (Cl 2,9), Ngài là vẻ đẹp thiêng liêng đang tỏa chiếu nơi Đức Trinh Nữ rất thánh, Mẹ Thiên Chúa, nơi các thiên thần và các thánh. Nghệ thuật thánh đích thực đưa con người đến việc tôn thờ, cầu nguyện và yêu mến Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và Cứu Độ, Đấng Thánh Thiện và thánh hóa”.[19]

Ý nghĩa và mục đích của nghệ thuật thánh còn được công đồng Vaticanô II đề cập trong lời nhắn nhủ các nghệ sĩ: “Riêng đối với tất cả những nghệ sĩ có tài năng, muốn phụng sự Thiên Chúa để làm vinh danh Ngài trong Giáo Hội, phải luôn luôn nhớ rằng một phần nào họ bắt chước Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo, họ sáng tác những tác phẩm dùng vào việc thờ phượng công giáo, vào việc cảm hóa các tín hữu cho họ thêm lòng đạo đức và huấn luyện giáo lý cho họ nữa”.[20]

“Đã từ lâu Giáo Hội liên kết với quí vị. Quí vị đã xậy dựng và trang hoàng những đền thờ, suy tôn các tín điều, làm giàu cho phụng vụ của Giáo Hội. Quí vị đã giúp đỡ Giáo Hội diễn tả sứ điệp thánh của mình ra ngôn ngữ hình thể và sắc thái, khiến cho thế giới vô hình có thể được cảm nhận.”[21]

3.2. Cách thức thể hiện

Hiểu được ý nghĩa và mục đích của nghệ thuật thánh, chúng ta thấy Giáo Hội luôn quan tâm phát huy loại hình nghệ thuật này “để những vật dụng dùng trong phụng tự thánh được thực sự xứng đáng, thích hợp và mỹ lệ, đồng thời biểu thị và tượng trưng những thực tại trên trời...Giáo Hội vẫn coi mình như vị thẩm phán về mỹ thuật, xét xem trong những tác phẩm của các nghệ sĩ, tác phẩm nào thích hợp với đức tin, với lòng đạo đức và với những luật lệ truyền thống trong đạo, cũng như xem những tác phẩm nào xứng đáng dùng vào việc thánh”.[22]

Tuy nhiên, Giáo Hội từ đầu đã không tạo ra một nghệ thuật riêng. Các nghệ sĩ kitô hữu của những thế kỷ đầu đã không sáng chế ra một “nghệ thuật Kitô giáo”, nhưng họ tìm cách diễn tả đức tin của mình bằng những sáng tạo nghệ thuật của thời đại họ đang sống. Tiến trình này là một phần của điều mà người ta gọi là “hội nhập văn hóa” theo mô hình của mầu nhiệm Nhập Thể. Đức Kitô khi đến trần gian đã mang lấy nơi mình những yếu tố văn hóa của thời đại và Ngài dùng ngôn ngữ và cách thể diễn tả của thời đại để mạc khải mầu nhiệm Nước Trời và chân lý Tin Mừng. Giáo Hội đến lượt mình cũng làm như thế: đi đến đâu và hiện diện ở bất kỳ thời điểm nào, Giáo Hội cũng luôn sử dụng ngôn ngữ và cách thế diễn tả của nền văn hóa địa phương để diễn tả và loan truyền sứ điệp. Nếu nghệ thuật mà Giáo Hội tạo nên có thể được gọi cách đặc biệt là “nghệ thuật Kitô giáo”, chủ yếu là vì đề tài hay nhiệm vụ tôn giáo của nó. Nếu nghệ thuật này có thể được gọi là “nghệ thuật thánh”, chủ yếu là vì qua đề tài tôn giáo hay nhiệm vụ tôn giáo của nó mà nó nói lên mầu nhiệm của Thiên Chúa, diễn tả các thực tại thánh và dẫn đưa tâm trí con người về với Thiên Chúa và các thực tại ấy.

Về hình thức thể hiện của nghệ thuật thánh xuyên qua dòng lịch sử, công đồng Vaticanô II đã xác định rõ ràng trong Hiến chế về Phụng Vụ thánh: “Giáo Hội hằng đặc biệt lo lắng sao cho vật dụng thánh góp phần vào vẻ trang trọng của phụng tự một cách xứng đáng và mỹ thuật, đồng thời chấp nhận những thay đổi về chất liệu, hình thức, trang trí theo tiến bộ kỹ thuật qua các thời đại”.[23]

“Giáo Hội đã không hề coi một kiểu nghệ thuật nào như là của riêng, nhưng công nhận các kiểu của bất cứ thời đại nào, tùy theo đặc tính và hoàn cảnh của các dân tộc, cũng như tùy theo nhu cầu của các nghi lễ; những kiểu nghệ thuật này, trải qua các thế kỷ, đã tạo nên một kho tàng nghệ thuật cần phải hết sức duy trì cẩn thận. Ngay cả những nghệ thuật trong thời đại chúng ta, nghệ thuật của mọi dân tộc và mọi miền, cũng phải được tự do phô diễn trong Giáo Hội, miễn là giữ được vẻ tôn kính trang trọng phải có trong các thánh đường và trong các nghi lễ thánh. Như thế, nghệ thuật đã có thể góp tiếng trong bản nhạc vinh quang kỳ diệu mà những bậc vĩ nhân đã từng ca hát qua các thế kỷ để ca tụng đức tin công giáo”.[24]

Cũng một giáo huấn ấy đã được công đồng lặp lại trong Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay: “Giáo Hội cũng phải công nhận những hình thức nghệ thuật mới, thích hợp với thời đại chúng ta, tùy theo bản chất của từng dân tộc, từng địa phương. Cũng nên đem vào nơi phụng tự những hình thức mới này, một khi với lối diễn tả thích nghi và phù hợp với phụng vụ, chúng giúp con người nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa”.[25]

Để thể hiện ý nghĩa và mục đích của mình như được trình bày trên đây, nghệ thuật thánh ngày nay có thể được thể hiện dưới nhiều cách thức đa dạng và phong phú hơn xưa: kiến trúc, điêu khắc và chạm trổ trên đá, kim loại, gỗ và nhiều vật liệu khác, hội họa, trang trí, thủ công chế biến vật dụng, đồ họa vi tính và cả nghệ thuật nhiếp ảnh, v.v. Các cách thức thể hiện ấy cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa địa phương đương thời. Chẳng hạn tại Việt Nam, nhà thờ có thể được xây dựng theo những mô hình kiến trúc Á Đông với những họa tiết dân tộc; các ảnh tượng cũng có thể mang dáng dấp con người Việt Nam, như tượng Đức Mẹ La Vang.

Khi sử dụng nghệ thuật của thời đại, Giáo Hội không sao chép, nhưng mang lại cho nó một chiều kích mới, một nội dung mới. Bằng cách đó, Giáo Hội góp phần đem lại cho nghệ thuật tất cả ơn gọi của nó. Chỉ có điều là Giáo Hội phải can thiệp bằng cách xem xét để các tác phẩm nghệ thuật ấy phải đẹp, trang nhã, là điều luôn đi liền với mỹ thuật đích thực,[26] có sức lôi cuốn và nâng cao tâm hồn; đồng thời loại trừ khỏi thánh đường cũng như những nơi thánh khác những tác phẩm nghệ thuật nào nghịch với đức tin và phong hóa, nghịch với lòng đạo đức Kitô giáo, cũng như những tác phẩm làm tổn thương ý nghĩa tôn giáo đích thực, hoặc vì hình thức tồi bại, hoặc vì thiếu nghệ thuật, tầm thường hay giả tạo.

KẾT LUẬN

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã gọi nghệ thuật thánh là một “tác vụ cao quí”. Có thể nói nghệ thuật thánh một cách nào đó cũng thi hành ba tác vụ: ngôn sứ, tư tế, và vương đế. Nghệ thuật thánh thi hành tác vụ ngôn sứ khi nó truyền đạt cho con người những sứ điệp thánh thiêng và mời gọi họ suy nghĩ, cảm nghiệm và đón nhận. Đó là những sứ điệp bằng hình ảnh có sức gợi lên tâm tình và lôi cuốn sự chú ý. Nghệ thuật thánh thi hành tác vụ tư tế, bởi vì nó đóng vai trò cầu nối dẫn đưa con người đi vào huyền nhiệm của Thiên Chúa được trình bày qua những hình ảnh và biểu tượng, đưa cái thánh thiêng vào thế giới phàm tục, đưa thế giới thần linh đến cho con người, đồng thời biến đổi cái phàm tục thành thánh thiêng và dẫn đưa con người vào thế giới thần linh. Cuối cùng, nghệ thuật thánh thi hành tác vụ vương đế khi nó gợi lên những khuôn mẫu lý tưởng nhằm xây dựng con người và góp phần xây dựng vương quốc của Thiên Chúa nơi trần gian. Tóm lại, qua các hình thức diến tả, nghệ thuật thánh bày tỏ các chân lý mạc khải, và trở thành biểu tượng của đức tin công giáo, góp phần xây dựng con người mới trong Đức Kitô.

Mùa Chay năm 2011

Giám mục Matthêô Nguyễn Văn Khôi

--------------------------------------------------------------------------------

[1] Trong bài này phần lớn các đoạn giáo huấn Giáo Hội có liên quan được trích dẫn đầy đủ và nguyên văn để các độc giả dễ tham chiếu.

[2] J.A. HARDON, SJ, Từ điển công giáo phổ thông, Nxb Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 587.

[3] Xem CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay Gaudium et spes (07-12-1965), số 57.

[4] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2009, số 2500.

[5] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Sứ điệp của công đồng gửi toàn thể nhân loại, nhân dịp bế mạc (08-12-1965), số 18.

[6] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Sứ điệp của công đồng gửi toàn thể nhân loại, nhân dịp bế mạc, số 17.

[7] Xem Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 2500.

[8] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 2501.

[9] Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các nghệ sĩ (04-04-1999), số 1.

[10] Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các nghệ sĩ, số 6.

[11] Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các nghệ sĩ, số 12.

[12] Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các nghệ sĩ, số 16.

[13] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế về Phụng Vụ thánh Sacrosanctum Concilium (04-12-1963), số 122.

[14] Xem ĐGH PHAOLÔ VI, Per la festa della dedicazione del Maggior Tempio (17-11-1965), trong Insegnamenti III (1965), tr. 1101-1104.

[15] BỘ GIÁO SĨ, Thư luân lưu gửi các chủ tịch Hội đồng Giám mục về việc bảo quản những di sản lịch sử và nghệ thuật của Hội Thánh, (11-04-1971), số 1.

[16] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 1161.

[17] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 1192.

[18] Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các nghệ sĩ, số 11.

[19] Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, số 2502.

[20] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế về Phụng Vụ thánh, số 127.

[21] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Sứ điệp của công đồng gửi toàn thể nhân loại, nhân dịp bế mạc, số 17.

[22] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế về Phụng Vụ thánh, số 122.

[23] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế về Phụng Vụ thánh, số 122.

[24] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế về Phụng Vụ thánh, số 124.

[25] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 62.

[26] Xem Qui chế tổng quát sách lễ Rôma, số 325.
 
Văn Hóa
Tìm lại chính mình
Mic. Cao Danh Viện
08:56 11/03/2011
Mùa chay là một hành trình
Ta đi tìm lại chính mình ta ơi
Bốn mươi ngày hay một đời
Cất công tìm lại con người nguyên sơ

Ngàn xưa là chút bụi tro
Thổi hơi Thần Khí Chúa cho là người
Đẹp xinh hơn cả muôn loài
Siêu nhiên sự sống Chúa Trời thưởng ban

Sao người lại nỡ phủ phàng
Theo cơn cám dỗ, bỏ hàng chính nhân
Kiêu căng, tự phụ, mê lầm
Bất tuân thượng lệnh, nhận phần hư hoang

Con người nỡ bỏ thiên đàng
Chúa vì yêu chẳng nỡ đành chia xa
Đem tình trời đến thứ tha
Lòng Thương Xót Chúa hải hà vô biên

Hiến mình lễ tế Con Chiên
Đồi cao lãnh án oan khiên chuộc đời
Cạnh sườn, Máu, Nước, hồng tươi
Chiên con dẫn lối con người phục sinh

Trả tôi về lại chính mình
Tha tôi án phạt tử hình tổ tông
Hành hương tôi được vọng trông
Địa đàng ngày cũ sáng hồng trong tôi

Bốn mươi ngày, hay một đời
Là mùa chay thánh cho tôi trở về
Sống trong tình Chúa say mê
Canh tân, sám hối, trọn thề chính nhân

Hồn tôi sự sống trong ngần
Cho dù thân xác ngàn lần bụi tro.
 
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật Chiêm/Niệm/Thiền: Sa Mạc Chiều Thanh Vắng
Lê Trị
22:13 11/03/2011
SA MẠC CHIỀU THANH VẮNG

Ảnh của Lê Trị

Thân phận yếu hèn, lòng nặng trĩu

Bước vào sa mạc buổi chiều tàn

Mong tìm thanh thản nơi thanh vắng

Nối bước theo Thầy: Đấng Chí Nhân.

(Lê Trị: Mùa Chay 2011)

Click here to go to PhotoArt Meditation Room - Phòng ảnh Nghệ Thuật và Chiêm/Niệm/Thiền