1. Thứ Tư Tuần Thứ Nhất Mùa Chay, Ngày 25 Tháng 2 Năm 2026
Gn 3:1-10
Tv 50(51):3-4, 12-13, 18-19
Lc 11:29-32
Lạy Chúa, xin thương xót con. Tv 50(51):1
Bài thánh vịnh đáp ca hôm nay trỗi dậy từ nỗi đau đớn tột cùng và sự hối hận của vua Đa-vít. Những tội lỗi của ông, được phơi bày trong chương 11 và 12 của sách Sa-mu-ên thứ hai, gây chấn động bởi mức độ nghiêm trọng của chúng - sự phản bội lòng tin, lạm dụng quyền lực, và nỗ lực che giấu tội lỗi bằng những điều ác lớn hơn. Tội lỗi của chúng ta có thể nhỏ bé hơn nhiều so với những điều trên, nhưng chúng ta vẫn có thể biến lời cầu nguyện của Đa-vít thành lời cầu nguyện của chính mình.
Được đặt tên theo câu mở đầu bằng tiếng Latinh - Miserere mei, Deus (Tv 51:1) - Kinh cầu Miserere chiếm một vị trí trung tâm trong lời cầu nguyện của Giáo hội. Đó là bài đáp ca trong Thứ Tư Lễ Tro và trong một số Thánh lễ khác trong Mùa Chay; nó được đọc mỗi sáng thứ Sáu trong Phụng vụ Giờ kinh; các cha giải tội giao nó như một hình phạt; và trong Tuần Thánh, nó làm cho giờ kinh Tenebrae hay được đọc trong Tam Nhật Thánh thêm phần trang nghiêm. Các nhà soạn nhạc qua nhiều thế kỷ đã phổ nhạc cho bài kinh này, với bản nhạc tuyệt vời của Allegri dễ dàng được nhận ra. (Để biết thêm về một sự kiện đáng chú ý trong lịch sử Công Giáo, hãy tìm kiếm trên Google “Allegri, Miserere, Mozart”.)
Là một hành động sám hối, kinh Miserere không có gì sánh bằng. Nó không chỉ là thơ ca cao quý; nó là Lời Chúa được soi dẫn. 21 câu thơ của nó chắt lọc toàn bộ mùa Chay: nỗi cay đắng của tội lỗi; lời kêu gọi ăn năn; ân sủng của sự hoán cải; lời hứa về sự đổi mới. Khi chúng ta thành tâm cầu nguyện kinh Miserere, chúng ta mở lòng đón nhận cùng một lòng thương xót qua đó Chúa đã phục sinh một vị vua sa ngã.
Lạy Chúa, xin cho con thêm sâu sắc lòng ăn năn tội lỗi và gia tăng niềm tin của con vào lòng thương xót của Ngài. Xin ban cho con ân sủng để bắt đầu lại với niềm hy vọng và niềm vui. Amen.
Tenebrae - tiếng Latin nghĩa là “bóng tối” - là một truyền thống của Giáo hội Tây phương, thường được cử hành vào ba ngày trước Phục Sinh. Tenebrae bao gồm các bài đối ca, các bài Thánh vịnh, các bài đọc Thánh Kinh và đáp ca đan xen nhau. Đặc trưng của Tenebrae là ban đầu sẽ có các ngọn nến được thắp sáng, và sau đó trong khi cử hành sẽ thổi tắt từng ngọn nến một, đến cuối buổi sẽ có một tiếng động lớn (“strepitus - động đất”) khi tất cả đã chìm vào bóng tối.
“Bóng tối bao trùm khắp mặt đất” (Mt 27:45)
Trong cử hành Tenebrae, chúng ta hiệp cùng Hội Thánh để than khóc cho Đấng Cứu Chuộc bị phản bội. Các bài đọc theo dấu cuộc thương khó của Chúa Kitô, các bản nhạc thể hiện cảm xúc mãnh liệt của Người, sức nặng của những khoảng thinh lặng và của bóng tối cũng nói lên những bi thương của ngày quan trọng này.
Những ngọn nến tượng trưng cho Chúa Giêsu và các Tông Đồ, những ngọn nến tắt dần ám chỉ các ông từng người một lần lượt rời bỏ Chúa. Ngọn nến cuối cùng sẽ được lấy khỏi giá nến và đem ẩn đi. Tất cả chìm vào bóng tối khi ca đoàn cất tiếng hát Miserere thảm thương.
Âm thanh mạnh mẽ của “strepitus” (động đất) ở cuối cử hành phản ánh bản chất quan trọng của cuộc thương khó Chúa. Thế nhưng, “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.” - Ga 1,5 - ở lần cử hành thứ ba (đêm thứ sáu cử hành cho thứ bảy Tuần Thánh), ngọn nến cuối cùng sẽ được mang trở lại sau tiếng động đất.
Cha John Corrigan
Source:VietCatholic
2. Thánh lễ Latinh truyền thống được cử hành bên ngoài Trung tâm Kế hoạch hóa Gia đình ở San Francisco.
Hôm Chúa Nhật vừa qua, linh mục người Á Căn Đình, Cha Javier Olivera Ravasi, đã cử hành Thánh lễ Latinh truyền thống trên đường phố San Francisco bên ngoài một cơ sở của Planned Parenthood “để cầu xin sự tha thứ và phạt tạ cho tội ác phá thai”.
Thánh lễ được cử hành ngoài trời như một phần của điều mà vị linh mục mô tả là hoạt động tông đồ làm chứng công khai liên tục. Theo những lời ngài đăng tải sau đó trên mạng xã hội, không có sự xáo trộn đáng kể nào trong suốt buổi lễ. Ngài viết: “Không có sự việc nào, ngoại trừ thỉnh thoảng có một 'kẻ gan dạ' ném những lời lăng mạ từ xe của mình, giống như Chúa Kitô trên đồi Calvary. Thật vinh dự khi được mời.”
Trong bài giảng được trình bày trọn vẹn giữa cơn mưa tầm tã, Cha Ravasi nói với những người hiện diện rằng họ đã quy tụ lại “một lần nữa để tiếp tục sứ mệnh tông đồ này, với tư cách là người Công Giáo, tích cực sống đức tin của mình”. Trích dẫn lời khuyên của Thánh Phaolô về việc rao giảng “trong mọi hoàn cảnh”, ngài nói rằng các tín hữu được kêu gọi kiên trì bất kể hoàn cảnh nào, dù thuận lợi hay bất lợi.
“Tại sao lại cử hành Thánh lễ ở đây, giữa đường phố?” ngài hỏi. “Trước hết và trên hết, để cầu nguyện cho sự hoán cải của những người làm việc ở những nơi này; để một ngày nào đó Chúa có thể chạm đến tâm trí và ý chí của họ, và họ có thể hiểu rằng, ngay cả khi họ không nhận ra điều đó, họ đang cướp đi sinh mạng của một người vô tội.”
Ngài nói tiếp rằng ý nguyện thứ hai của Thánh lễ là “xin tha thứ và đền bù cho tội ác phá thai, một tội ác mà ở nhiều nơi thậm chí còn không được công nhận là tội ác”. Cuối cùng, ngài nói, việc làm chứng công khai là một biểu hiện của bổn phận Kitô giáo. “Đó là bổn phận của mỗi người Công Giáo, bổn phận của mỗi Kitô hữu, phải làm chứng cho Đức tin, bảo đảm rằng lời nói của chúng ta là ‘vâng…vâng; không…không’, như chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay.”
Cha Ravasi nói với giáo đoàn rằng những người tham gia công tác truyền giáo hoặc tông đồ chính là những người đầu tiên được hưởng ân sủng. Ngài nói: “Chúng ta thường nghĩ rằng khi chúng ta làm điều tốt, khi chúng ta thực hiện công việc tông đồ, người đầu tiên được hưởng lợi là người đón nhận Lời Chúa. Nhưng không… người đầu tiên được hưởng lợi từ sứ mệnh chính là người truyền giáo.”
Ngài nói thêm rằng thông qua việc làm chứng trước công chúng, người Công Giáo có thể phải đối mặt với sự sỉ nhục, vu khống hoặc bị từ chối, nhưng những thử thách đó là một phần của ơn gọi Kitô giáo. “Chính trong lửa mà vàng được tinh luyện; và đó là sứ mệnh tông đồ của Công Giáo”, ngài nói, kêu gọi mọi người cầu nguyện cho sự hoán cải cá nhân trước Mùa Chay và kêu gọi một điều mà ngài mô tả là “một nền Công Giáo chiến đấu (chứ không phải ‘thụ động’) tỏa sáng trước mặt mọi người”.
Cha Ravasi, một linh mục người Á Căn Đình, có mối liên hệ với Đền thờ Đức Mẹ Guadalupe ở Wisconsin, do Hồng Y Raymond Leo Burke sáng lập. Vào tháng 2 năm 2025, đền thờ đã mời ngài nhận vị trí linh mục hành hương gốc Tây Ban Nha bán thời gian, với sự chúc phúc và khuyến khích của Hồng Y.
Cha Ravasi sinh ra ở Buenos Aires, tốt nghiệp ngành luật tại Đại học Buenos Aires trước khi vào chủng viện năm 2002. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ban đầu, ngài được cử sang Âu Châu, nơi ngài lấy bằng tiến sĩ triết học tại Đại học Giáo hoàng Lateran ở Rôma năm 2007. Ngài được thụ phong linh mục vào năm sau đó.
Sau đó, ngài lấy bằng tiến sĩ lịch sử tại Đại học Quốc gia Cuyo và hiện là giáo sư đại học về luật học và khoa học xã hội. Ngài thường xuyên giảng dạy triết học, lịch sử và ngôn ngữ cổ điển, đồng thời là tác giả của 12 cuốn sách cũng như nhiều bài báo được xuất bản ở Á Căn Đình và nước ngoài.
Cha Ravasi là thành viên chính thức của hội đồng học thuật thuộc Viện Nghiên cứu Lịch sử Juan Manuel de Rosas và là đồng sáng lập của Dòng San Elías, một hội dòng đời sống tông đồ chuyên tâm vào công tác truyền giáo và những gì mà hội dòng mô tả là hoạt động tông đồ của “cuộc cách mạng phản văn hóa”.
Hiện ngài đang giữ chức vụ Bề Trên Tổng Quyền Dòng Thánh Ê-li-gia, một hội dòng đời sống tông đồ thuộc quyền giáo phận trong Tổng giáo phận Portoviejo ở Ecuador.
Source:Catholic Herald
3. Đức Hồng Y Willem Eijk sẽ cử hành Thánh Lễ Latinh Truyền Thống đầu tiên của mình tại Oss, Hòa Lan.
Đức Hồng Y người Hòa Lan Willem Eijk sẽ cử hành Thánh lễ Latinh truyền thống đầu tiên của mình tại Oss, Hòa Lan vào tháng tới.
Theo Đài phát thanh Maria Hòa Lan, Đức Tổng Giám Mục Utrecht sẽ chủ trì Thánh lễ trọng thể theo nghi thức truyền thống của Giáo hội Rôma tại Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở Oss vào Chúa Nhật, ngày 15 tháng 3. Thánh lễ, dự kiến bắt đầu lúc 12 giờ 30 phút trưa, là một phần trong các buổi lễ Chúa nhật thường lệ theo nghi thức Rôma cổ truyền tại giáo xứ này.
Đức Hồng Y Willem Jacobus Eijk, 72 tuổi, được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 phong Hồng Y năm 2012 và giữ chức Đức Tổng Giám Mục Utrecht từ năm 2007. Theo Diane Montagna, buổi lễ sắp tới tại Oss sẽ là Thánh lễ Latinh truyền thống công khai đầu tiên của ngài tại Oss.
Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, được người dân địa phương gọi là Grote Kerk, là nhà thờ giáo phận ở Oss, nơi cử hành Thánh lễ Latinh truyền thống mỗi Chúa Nhật.
Đức Hồng Y Eijk trước đây đã từng nói về tầm quan trọng trung tâm của Thánh Thể đối với đời sống Công Giáo. Trong một bài suy niệm mục vụ, ngài viết: “Qua bí tích Thánh Thể, chúng ta được hiệp nhất với Chúa Giêsu; do đó, với chính Thiên Chúa và vì thế với tình yêu vô biên của Ngài.” Trong một dịp khác, ngài nhấn mạnh rằng Thánh Thể là “nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô giáo”, và nói thêm rằng nếu người Công Giáo “nhận ra rằng chính Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể, thì không thể không tôn thờ Ngài”.
Việc cử hành Thánh lễ của ngài đôi khi thu hút sự chú ý ở Hòa Lan. Đáp lại những lời chỉ trích về việc cử hành Thánh lễ hướng về phía Đông, ngài nói: “Tôi không cử hành Thánh lễ quay lưng về phía giáo dân; tôi cử hành bằng cách hướng mặt về phía Chúa Kitô… cùng với giáo dân, chúng ta thực sự hướng về Chúa Kitô.”
Sinh ra tại Duivendrecht năm 1953 trong một gia đình có cha theo đạo Tin Lành và mẹ theo đạo Công Giáo, Eijk ban đầu được đào tạo và làm việc với tư cách là một bác sĩ y khoa. Ngài hoàn thành chương trình y khoa tại Đại học Amsterdam năm 1978 trước khi vào chủng viện. Được thụ phong linh mục năm 1985, sau đó ngài lấy bằng tiến sĩ y học và triết học, chuyên về thần học luân lý và đạo đức sinh học.
Trước khi được bổ nhiệm đến Utrecht, ngài từng là Giám mục của Groningen-Leeuwarden từ năm 1999. Với tư cách là Tổng Giám Mục, Hồng Y Eijk được nhiều người coi là một trong những vị giáo sĩ có giáo lý chính thống nhất ở Âu Châu. Ngài luôn kiên định bảo vệ giáo huấn của Giáo hội về sự thánh thiêng của sự sống, hôn nhân và đời sống độc thân của linh mục, đồng thời phản đối việc chúc phúc cho các cặp đồng tính.
“Vào những năm 1950, 90% người Công Giáo vẫn đi nhà thờ mỗi Chúa Nhật. Giờ đây, con số đó chỉ còn 5%”, ngài nhận xét trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh, khi phản ánh về mức độ suy giảm tôn giáo trong xã hội Hòa Lan.
Hòa Lan được coi là một trong những quốc gia Công Giáo tiến bộ nhất ở Âu Châu trong những năm sau Công đồng Vatican II. Cuộc thử nghiệm phụng vụ của Hòa Lan vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 đã chứng kiến một số bộ phận của Giáo hội ở Hòa Lan đưa ra những thay đổi đối với Thánh lễ vượt ra ngoài những gì Công đồng đã dự kiến, và cuốn Nieuwe Katechismus (Giáo lý Mới), do Hội đồng Giám mục Hòa Lan ban hành năm 1966, đã thúc đẩy sự can thiệp của Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục và những làm rõ giáo lý sau đó.
Ngày nay, hình thức cũ của Nghi thức Rôma vẫn còn tương đối hiếm. Sổ tay Thánh lễ Latinh chỉ liệt kê 12 địa điểm cử hành Thánh lễ này cho 3,4 triệu tín hữu Công Giáo của đất nước. Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy nhu cầu về Thánh lễ Truyền thống đang ngày càng tăng, với việc Huynh Đoàn Thánh Phêrô bắt đầu một hoạt động tông đồ tại Tổng giáo phận Utrecht vào tháng 11 năm ngoái.
Quyết định của vị giáo sĩ cao cấp nhất nước này cử hành Thánh lễ Giám mục theo nghi thức Rôma cổ truyền có thể được xem như một cử chỉ thể hiện sự nhiệt thành mục vụ. Khẩu hiệu giám mục của Hồng Y Eijk, Noli recusare laborem, “Đừng từ chối công việc”, phản ánh đường lối này, được hình thành bởi sự kiên trì vượt qua khó khăn.
Source:Catholic Herald
4. Đứa bé sơ sinh bị bỏ mặc cho chết một mình trong khi mút ngón tay sau ca phá thai thất bại.
Theo thông tin từ một người tố giác tại bệnh viện, một em bé được sinh ra còn sống ở Queensland, Úc, sau một ca phá thai thất bại ở tuần thứ 16, đã bị bỏ mặc cho đến chết khi đang mút ngón tay cái.
Bức ảnh của em bé, được biết đến với tên Samuel, ban đầu được chia sẻ trên tài khoản Instagram của Tiến sĩ Joanna Howe, giáo sư luật tại Đại học Adelaide. Tiến sĩ Howe cho biết bức ảnh và các thông tin liên quan khác được các nhân viên y tế Queensland chuyển cho bà.
“Cậu bé sống sót sau ca phá thai, được sinh ra còn sống và sau đó bị bỏ lại một mình trong phòng, mút ngón tay cái cho đến khi qua đời”, Tiến sĩ Howe nói.
“Chúng ta cần phải lên tiếng bảo vệ những đứa trẻ sơ sinh đang bị giết hại ngay trước khi chào đời, và nếu bằng một phép màu nào đó chúng sống sót sau ca phá thai, chúng sẽ bị bỏ mặc cho đến chết”, cô ấy nói thêm.
Trong một video khác, Tiến sĩ Howe tuyên bố rằng hoàn cảnh cái chết của bé Samuel “không phải là trường hợp cá biệt. Điều này đã xảy ra với 50 trẻ sơ sinh ở Queensland vào năm 2022, những em bé sống sót sau khi bị phá thai nhưng bị bỏ mặc cho đến chết”.
Ngay sau đó, Tiến sĩ Howe tiết lộ rằng một người tố giác khác làm việc trong ngành y tế Queensland đã đưa cho bà một bức ảnh chụp cuốn sổ hành chính ghi chép các ca sinh.
Tiến sĩ Howe cho biết cuốn sách tiết lộ rằng một thai nhi tên Amira đã bị “tiêm thuốc độc vào tim khi thai được 25 tuần. Bé bị ngừng tim và đau đớn dữ dội. Mẹ của bé được cho dùng thuốc kích thích chuyển dạ và bé Amira được sinh ra lành lặn”, đồng thời nói thêm rằng bé đã chết khi sinh ra.
Sổ khai sinh cho thấy bé Amira nặng 726 gram khi sinh ra, mà theo bác sĩ Howe là xấp xỉ “kích thước của một quả dứa”. Sổ cũng tiết lộ rằng việc phá thai là “chấm dứt thai kỳ vì lý do xã hội”, có nghĩa là “không có vấn đề gì với Amira, cũng không có vấn đề gì với người mẹ”, theo bác sĩ Howe.
Sau những thay đổi luật pháp nhằm “phi hình sự hóa” việc phá thai, bắt đầu từ bang Victoria năm 2008, việc phá thai hiện được cho phép đến tận lúc sinh ở tất cả các bang của Úc.
Luật pháp tiểu bang ở Úc cho phép phá thai đến tận lúc sinh nở vì lý do thể chất, tâm lý và xã hội khi được hai bác sĩ chấp thuận; đó có thể là bác sĩ phẫu thuật phá thai và bác sĩ gây mê.
Trên thực tế, điều này đã cho phép phá thai theo yêu cầu, vì bất kỳ lý do gì, ngay cả đến khi sinh con ở Úc.
Victoria là tiểu bang đầu tiên thay đổi luật để cho phép phá thai trên thực tế theo yêu cầu cho đến tận lúc sinh. Trước khi luật được ban hành tại Victoria vào năm 2008, các nhà hoạt động vì quyền phá thai tuyên bố rằng, mặc dù trên thực tế, phá thai sẽ được cho phép vì bất kỳ lý do nào, nhưng các bác sĩ sẽ bảo đảm rằng phần lớn các ca phá thai chỉ xảy ra trong những trường hợp hiếm hoi, chẳng hạn như khi thai nhi mắc phải tình trạng có thể chết trong bụng mẹ hoặc ngay sau khi sinh, dị tật bẩm sinh gây tử vong hoặc khuyết tật đe dọa đến tính mạng.
Dữ liệu từ việc thực thi luật ở Victoria cho thấy điều này không đúng. Nhóm quan hệ công chúng của Right To Life UK đã tiến hành phân tích sâu rộng dữ liệu về phá thai muộn ở Victoria do Hội đồng Tư vấn về Tử vong Sản khoa và Nhi khoa công bố.
Dữ liệu này cho thấy rằng từ năm 2008, khi luật thay đổi, đến năm 2020, đã có 1.418 ca phá thai muộn, từ tuần thứ 20 của thai kỳ đến khi sinh, được thực hiện bởi các bác sĩ vì lý do tâm lý xã hội. Đây là những ca phá thai mà thai nhi không bị khuyết tật và việc phá thai được thực hiện vì lý do xã hội. Năm 2011, một trong những ca phá thai vì lý do xã hội này xảy ra ở tuần thứ 37.
Tại Nam Úc, khu vực pháp lý duy nhất có luật yêu cầu thu thập và công bố dữ liệu thường xuyên về phá thai, năm 2023 gần 80% các ca phá thai muộn được thực hiện từ tuần thứ 23 của thai kỳ trở lên là do vấn đề sức khỏe tâm thần hoặc thể chất của người mẹ, không có ca phá thai muộn nào được thực hiện để cứu sống người mẹ.
Tại tiểu bang Victoria, trong số 310 ca phá thai muộn sau 20 tuần, có 33 trẻ sơ sinh được sinh ra còn sống nhưng sau đó tử vong. Những trường hợp tử vong này được ghi nhận là “tử vong sơ sinh” chứ không phải tử vong do phá thai.
Năm 2008, một báo cáo của Anh cho thấy có 66 trẻ sơ sinh được sinh ra còn sống sau khi bị phá thai theo chương trình của NHS trong vòng một năm. Phần lớn trong số 66 em bé đó đều mất hơn một giờ để chết.
Theo một báo cáo chính thức, tại bang Victoria, hàng loạt trẻ sơ sinh đã bị bỏ mặc cho đến chết sau khi bị lấy ra khỏi tử cung trong một số vụ phá thai bất thành.
Báo cáo cho biết năm 2011 có 40 trường hợp chấm dứt thai kỳ sau 20 tuần dẫn đến sinh con sống. Mặc dù các con số này có quy mô tương đương, nhưng dân số 5,5 triệu người của Victoria chỉ bằng một phần mười dân số của Anh.
Từ năm 2005 đến năm 2015, có 204 trẻ sơ sinh được sinh ra còn sống do phá thai ở Queensland.
Tháng 6 năm 2025, các Dân biểu ủng hộ phá thai, dẫn đầu bởi Dân biểu Tonia Antoniazzi, đã thao túng Dự luật Tội phạm và Cảnh sát để nhanh chóng thông qua điều khoản phi hình sự hóa, điều 191, chỉ sau 46 phút tranh luận tại nghị viện. Không có sự tham khảo ý kiến trước đó với công chúng, không có sự xem xét tại Ủy ban và không có phiên điều trần nào.
Điều khoản Antoniazzi sẽ làm tăng khả năng phá thai tại nhà đối với những em bé khỏe mạnh vì bất kỳ lý do gì, thậm chí cho đến khi sinh.
Điều khoản này sẽ sửa đổi luật để việc phụ nữ tự phá thai vì bất kỳ lý do gì và ở bất kỳ thời điểm nào trước và trong quá trình sinh nở sẽ không còn là bất hợp pháp nữa.
Nếu điều khoản sửa đổi này trở thành luật, nó có thể dẫn đến sự gia tăng đáng kể số lượng phụ nữ thực hiện phá thai muộn tại nhà, gây nguy hiểm đến tính mạng của nhiều phụ nữ hơn nữa.
Việc đề xuất thay đổi luật cũng sẽ dẫn đến việc ngày càng nhiều thai nhi đủ điều kiện sống bị chấm dứt khi phá thai vượt quá thời hạn 24 tuần và vượt quá thời điểm chúng có thể sống sót bên ngoài tử cung.
Nữ Dân biểu Tonia Antoniazzi cho biết trong một cuộc phỏng vấn rằng bà cảm thấy thoải mái với việc phụ nữ được phép phá thai đối với một thai nhi có khả năng sống sót ở tuần thứ 37.
Một cuộc thăm dò do tờ Telegraph thực hiện cho thấy 91% trong số 28.000 người tham gia phản đối việc thay đổi luật theo điều khoản 191.
Nữ bá tước Monckton, một thành viên nổi tiếng của Thượng viện Anh, đã đệ trình một sửa đổi đối với Dự luật Tội phạm và Cảnh sát, cùng với các thành viên khác, nhằm bác bỏ điều khoản gây tranh cãi về việc phi hình sự hóa trong dự luật này.
Phát ngôn nhân của tổ chức Right To Life UK, Catherine Robinson, cho biết: “Thật đau lòng khi nghe những thông tin kinh hoàng về phá thai ở Queensland mà Tiến sĩ Joanna Howe và những người tố giác đã đưa ra ánh sáng.
“Khi phụ nữ phát hiện mình mang thai, họ cần được hỗ trợ và giúp đỡ thiết thực để tiếp tục thai kỳ. Luật pháp cần được thay đổi để bảo đảm rằng những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội ta, những đứa trẻ chưa chào đời không có tiếng nói riêng, không bị tước đoạt mạng sống một cách không cần thiết.”
Source:Catholic Herald