Đức Cha Erik Varden kết thúc việc trình bầy các đề tài tĩnh tâm với Đức Leo XIV và Giáo triều trong tuần này với hai suy niệm sau đây:

Apse mosaic from Sant’Apollinare in Classe, Ravenna.


10. Về Sự Suy xét
(27 tháng 2 năm 2026)

Từ bài giảng thứ mười của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.

Thánh Bernard đã viết một luận thuyết về Sự Suy Xét. Tác phẩm này được lưu hành rộng rãi nhất trong số các tác phẩm của ngài. Điều này có vẻ kỳ lạ, vì về bản chất, văn bản này là một bức thư gửi cho một người cụ thể trong một hoàn cảnh đặc biệt. Thánh Bernard đã viết nó cho một người anh em của mình, một đan sĩ người Ý tên là Bernardo dei Paganelli, người vốn đã là linh mục của nhà thờ Pisa, đã vào đan viện Clairvaux năm 1138.

Năm 1145, Paganelli trở thành Đức Giáo Hoàng Eugene III.

Trong khi chiêm niệm đề cập đến những chân lý đã biết, thì sự suy xét, theo từ vựng của Thánh Bernard, tìm kiếm chân lý trong những vấn đề ngẫu nhiên của con người, nơi mà nó có thể khó nhận ra. Nó có thể được định nghĩa là 'suy nghĩ tìm kiếm chân lý, hoặc sự tìm kiếm của một tâm trí để khám phá chân lý'.

Xem xét các vấn đề của Giáo hội, Thánh Bernard không đưa ra bất cứ giải pháp định chế nào. Thay vào đó, ngài khuyên Đức Eugene nên bao quanh mình bằng những người tốt. Việc điều hành các văn phòng trung ương của Giáo hội càng tốt thì lợi ích cho Giáo hội trên toàn thế giới càng lớn.

Những phẩm chất mà Bernard yêu cầu ngài tìm kiếm và trau dồi là bất diệt. Cần những cộng sự “có đức tin thánh thiện đã được chứng minh, sẵn sàng vâng phục và kiên nhẫn thầm lặng; […] Công Giáo trong đức tin, trung thành trong phục vụ; hướng về hòa bình và mong muốn sự hiệp nhất; […] có tầm nhìn xa trong tư vấn, […] siêng năng trong tổ chức […], khiêm tốn trong lời nói”.

Những người như vậy “thường xuyên chuyên tâm cầu nguyện, và trong mọi công việc đều đặt niềm tin vào điều đó hơn là vào sự siêng năng hay lao động của chính mình. Sự đến của họ bình an, sự ra đi của họ khiêm nhường”.

Chừng nào Giáo hội hoạt động theo những điều kiện này, Giáo hội sẽ phản ảnh sự tổ chức của các phẩm trật thiên thần. Bất cứ ai suy gẫm về Giáo hội khi đó sẽ thấy sứ mệnh chính của Giáo hội: đó là tôn vinh Thiên Chúa.

Xem xét đúng đắn những nhu cầu trần thế, chúng ta phải tìm kiếm, thông qua chúng, những gì ở trên cao. Thánh Bernard nói với Đức Eugene rằng, điều này không phải là “đi lưu vong: xem xét theo cách này là trở về quê hương”.

Thánh Bernard tự hỏi: Thiên Chúa là gì? Ý chí toàn năng, đức hạnh nhân ái, lý trí bất biến. Thiên Chúa là “phúc lành tối cao”, vì tình yêu thương mà muốn chia sẻ thần tính của Người với chúng ta. Người đã tạo dựng chúng ta để khao khát Người. Người mở rộng tầm nhìn của chúng ta để đón nhận Người, ban cho chúng ta sự công chính để xứng đáng với Người. Người dẫn dắt chúng ta trong công lý, uốn nắn chúng ta trong lòng nhân ái, soi sáng chúng ta bằng tri thức, gìn giữ chúng ta đến muôn đời.

Dù các giám mục còn phải suy nghĩ về nhiều điều khác nữa, họ vẫn phải xem xét những điều này trước tiên. Nhờ đó, sự xem xét các vấn đề thực tiễn của họ cũng sẽ được soi sáng, được sắp xếp và được chúc phúc.

Theo quan điểm của Thánh Bernard, một giám mục phải có nguyên tắc, thánh thiện và khắc khổ. Nhưng ngài cũng phải là bạn của Chú rể, vui mừng chia sẻ tình bạn đó với người khác.

Thánh Au-gus-ti-nô thích mô tả chức vụ giám mục như một sarcina, một bó đồ của lính lê dương. Đó là một hình ảnh thô sơ được hình thành bởi một người đã biết đến sự hoang tàn và nỗi sợ hãi của các chiến dịch ở sa mạc Bắc Phi. Tuy nhiên, ngài tiếp tục ứng khẩu dựa trên chủ đề đã định sẵn của mình. Mặc dù gánh nặng mục vụ có một khía cạnh đáng sợ, nhưng nó chỉ đáng sợ nếu chúng ta không nhận ra ai là người đặt gánh nặng lên vai mình. Bởi vì đó không kém phần quan trọng là sự tham gia vào ách ngọt ngào của Chúa Ki-tô, Đấng cho phép chúng ta khám phá ra rằng thanh ngang của cây thánh giá được giao phó cho chúng ta là rạng rỡ và nhẹ nhàng, rằng việc được chia sẻ trong đó là niềm vui.

Thánh Au-gus-ti-nô từng viết: ‘Perduc sarcinam tuam quia levis est si diligis gravis si odisti‘, nghĩa là: ‘Hãy mang gánh nặng của mình đến cùng. Nếu bạn yêu nó, nó sẽ nhẹ nhàng. Nếu bạn ghét nó, nó sẽ nặng nề.’

Thánh Bernard viết trong cuốn Cuộc đời Thánh Malachy người Ireland : ‘Lạy Chúa Giêsu nhân lành, của Chúa là khoản tiền được giao phó cho chúng con; của Chúa là Kho báu ẩn giấu trong tay chúng con, sẽ được trả lại vào thời điểm Chúa ấn định để đòi lại.’

11. Truyền Đạt Hy Vọng
(27 tháng 2 năm 2026)

Đây là bài thuyết trình thứ mười một và cũng là bài cuối cùng trong Tuần Tĩnh Tâm Mùa Chay này.

Ngày 11 tháng 10 năm 1962, Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII long trọng khai mạc Công đồng Vatican II. Ngài nói rằng ‘mối quan tâm lớn nhất’ của Công đồng là ‘kho tàng thiêng liêng của giáo lý Ki-tô giáo cần được bảo vệ và giảng dạy hữu hiệu hơn. Giáo lý đó bao trùm toàn bộ con người, gồm cả thể xác và linh hồn. Nó mời gọi chúng ta, những lữ khách trên trái đất này, hướng về quê hương trên trời của chúng ta.’

Chưa đầy một tuần sau bài diễn thuyết của Đức Giáo Hoàng, cuộc Khủng hoảng Tên lửa Cuba bùng nổ. Con người dường như đang tự hủy diệt chính mình trong cuộc hành trình trần thế, mà không hề nghĩ đến mục tiêu cánh chung. Với những vết thương của Thế chiến II vẫn còn rỉ máu, loài người đang tạo ra những viễn cảnh tự hủy diệt khủng khiếp mới.

Một bầu không khí bất ổn bao trùm Công đồng; đồng thời, giai đoạn này cũng tràn đầy hy vọng mãnh liệt về một xã hội mới được xây dựng trên nền tảng nhân quyền, thương mại công bằng và tiến bộ kỹ thuật. Công đồng mong muốn lên tiếng về những “vấn đề đáng lo ngại của thời đại về xu hướng hiện tại của thế giới, vị trí và vai trò của con người trong vũ trụ, ý nghĩa của những nỗ lực của con người, số phận cuối cùng của thực tại và của nhân loại”. Công đồng không chỉ giải quyết các câu hỏi mà còn hướng tới tương lai. Công đồng đã đưa ra nghị quyết của mình, tuyên bố rằng Chúa Ki-tô, chịu đóng đinh và phục sinh, là hiện thân của tương lai nhân loại. Công đồng đã giao cho Giáo hội nhiệm vụ trình bày về Chúa Ki-tô sao cho Người hiện diện rõ ràng và thuyết phục như là câu trả lời cho những vấn đề cấp bách nhất của thời đại hiện nay mà không làm tổn hại đến kho tàng giáo lý thánh thiêng.

Chúng ta có thể tự hỏi liệu trong sáu mươi năm đã trôi qua kể từ khi Công đồng kết thúc, niềm tin vào sức mạnh và hiệu quả của kho tàng này có luôn được giữ vững ở mọi nơi hay không.

Mỗi thế hệ Ki-tô hữu đều có bổn phận tự xem xét mình trước sự tương phản mà Thánh Phao-lô đã chỉ ra cho người Ê-phê-sô giữa tầm vóc trọn vẹn của Chúa Ki-tô được biểu lộ trong sự hiệp nhất của đức tin và tri thức, trong sự trưởng thành chín chắn, và một trạng thái trẻ con bị xô đẩy, bị cuốn theo những cơn gió giáo lý, bị lôi kéo, lúc thì bởi sự khôn ngoan, lúc thì bởi những mưu mẹo xảo quyệt, lúc thì bởi sự lạc quan dễ dãi.

Chúa Ki-tô kêu gọi chúng ta truyền đạt niềm hy vọng cho thế giới. Có niềm hy vọng Ki-tô giáo không nhất thiết có nghĩa là trở thành người lạc quan. Một Ki-tô hữu từ bỏ lối suy nghĩ viển vông, kiên quyết lựa chọn điều thực tế. Những kẻ mị dân hứa hẹn rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn. Chúng tự nhận mình có quyền năng thần thánh để thay đổi cộng đồng trong một nhiệm kỳ bầu cử, đánh lạc hướng quần chúng khỏi những thất vọng bằng cách phát bánh mì, vé xem xiếc và phỉ báng đối thủ. Lời Chúa Ki-tô thì khác hẳn. Người nói với chúng ta: “Người nghèo các con sẽ luôn có bên mình”. Người khẳng định rằng dân tộc này sẽ nổi dậy chống lại dân tộc khác. Sự bách hại sẽ đến. Kẻ thù của người ta sẽ là những người trong chính gia đình họ. Không có sự cam chịu yếu đuối nào trong những lời tuyên bố này. Chúa bắt buộc chúng ta, những môn đệ của Người, phải lao động không ngừng nghỉ vì một nhân loại mới, lành mạnh được hình thành bởi lòng bác ái và công lý. Người bảo chúng ta “chữa lành người bệnh, làm cho người chết sống lại, tẩy sạch người phong cùi, đuổi quỷ”. Chúng ta phải thực hiện các mối phúc, làm cho vinh quang ẩn giấu bên trong chúng tỏa sáng. Nhưng khi chúng ta làm điều này, chúng ta được nhắc nhở: “Không có Ta, các con chẳng làm được gì”.

Chúa Ki-tô là ánh sáng của các dân tộc, Lumen Gentium. Chỉ có Người, làm theo ý muốn của Chúa Cha, hành động trong Chúa Thánh Thần, mới có thể đổi mới bộ mặt trái đất. Chúng ta đặt niềm tin nơi Người, không phải vào những mưu lược nhất thời.

Người có thể hành động qua chúng ta nếu chúng ta đồng ý kiên nhẫn. Mùa Chay cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa, chịu đựng vết thương của lòng bác ái, hoạt động tích cực nhất trong Cuộc Khổ Nạn của Người. Niềm hy vọng mà Người trao phó cho chúng ta không phải là hy vọng vào một Thung lũng Nước Mắt cuối cùng đã được hiện đại hóa, kỹ thuật số hóa và thanh lọc. Niềm hy vọng của chúng ta nằm ở một trời mới, một đất mới, trong sự sống lại của người chết.

Thời đại chúng ta đang sống khao khát được nghe lời loan báo về niềm hy vọng này. Chúng ta đã xem xét một số dấu hiệu xung quanh mình: ý thức tôn giáo mới trong giới trẻ; sự trở lại của phạm trù chân lý trong diễn ngôn công cộng; một cuộc tìm kiếm cội nguồn. Các định chế và liên minh hoàn cầu đang tan rã. Chúng ta đang đối mặt với nguy hiểm chiến lược, sinh thái và ý thức hệ. Thật tự nhiên khi những người có lý trí và thiện chí đặt câu hỏi rằng, giữa sự bất ổn như vậy, điều gì có cơ hội tồn tại lâu dài. Mệt mỏi vì xây dựng cuộc sống trên cát, họ tìm kiếm đá vững chắc. Trong khi đó, trái tim họ lại bất an. Các Nghị phụ của Công đồng Vatican II đã khẳng định trong Gaudium et spes rằng những khát vọng tốt đẹp nhất và nỗi sợ hãi đen tối nhất của thời đại hiện nay phải vang vọng trong trái tim của các Ki-tô hữu. Bởi vì một Ki-tô hữu không xa lạ gì với bất cứ điều gì “thực sự thuộc về con người”.

Cho phép tôi chia sẻ một tiếng vang như vậy đang vang vọng trong tôi.

Một năm trước, vào ngày 8 tháng 2 năm 2025, nữ ca sĩ người Mỹ Gracie Abrams đã có một buổi hòa nhạc ở Madrid. Cô ấy là một phụ nữ trẻ với mọi thứ trong tay. Cô ấy xinh đẹp, giàu có, thành đạt. Ở Madrid, cô ấy mặc một chiếc váy lụa trắng. Nó có thể là một chiếc váy cưới, một bộ trang phục của niềm vui, nếu không phải vì những dải ruy băng đen dài trên vai, điềm báo về một nỗi buồn mà, khi cô ấy bắt đầu hát, đã tạo nên cốt lõi thông điệp của cô ấy.

Trong lời bài hát của cô ấy có một nỗi buồn thấu xương, gần như chạm đến, sự tuyệt vọng. Abrams sinh năm 1999. Bài hát Camden của cô bắt đầu bằng câu, “Tôi chưa bao giờ nói điều đó, nhưng tôi biết rằng tôi không thể hình dung bất cứ điều gì sau tuổi 25”. Bài hát gợi lên nhu cầu che giấu nỗi đau, "chôn vùi gánh nặng cho đến khi nó khuất tầm mắt" trong khi bề ngoài vẫn tỏ ra bình thường, cho rằng mọi chuyện ổn, hy vọng ai đó sẽ "nhận thấy tôi đang cố gắng". Một điệp khúc lặp đi lặp lại: "Toàn bộ con người tôi, một vết thương cần được khép lại, nhưng tôi lại để nó mở toang."

Buổi biểu diễn bài hát Camden của Abrams ở Madrid đã được một người hâm mộ quay phim và đăng tải lên YouTube, người này viết: "Điên rồ. Không lời nào diễn tả được. Khóc. Chết lặng. Chết lặng." Hàng ngàn người đã tham dự buổi hòa nhạc đó. Họ cùng hát theo, tất cả đều thuộc lòng lời bài hát quanh co, coi nó như của riêng mình.

Nỗi hoài nhớ (Weltschmerz) tuổi teen không phải là điều mới mẻ. Mỗi thế hệ đều tìm ra cách riêng để bộc lộ nó. Tuy nhiên, có một chất lượng đặc biệt trong lời than thở của thời đại chúng ta. Chúng ta không thể bác bỏ nó như là sự sùng bái sự tuyệt vọng. Khi nghe và xem Gracie Abrams hát, người ta không nghi ngờ gì về chiều sâu trải nghiệm mà từ đó tiếng kêu của cô ấy xuất phát. Thật kỳ lạ khi nghe thấy nó được một đám đông trẻ tuổi cất lên, từng nhịp điệu buồn bã nối tiếp nhau: "Tôi chỉ muốn bạn biết rằng, tôi chưa bao giờ..." Cô ấy giỏi đối phó. […] Tôi thực sự hy vọng mình sẽ sống sót qua chuyện này.’ Liệu ‘hy vọng’ có phải là từ ngữ thích hợp trong hoàn cảnh này? Thực tế, tôi nghi ngờ điều đó. Điều nổi bật trong lời bài hát là sự tuyệt vọng trước một mối đe dọa luôn hiện hữu.

Người hâm mộ của Gracie Abrams chủ yếu là nữ. Một định kiến cho rằng nam giới thì khác, bị thu hút bởi sự nhận thức khắc nghiệt về những khó khăn của cuộc sống, sẵn sàng gánh chịu nó với sự kiên cường nam tính, râu rậm. Bất cứ ai ra ngoài và nói chuyện với những người trẻ tuổi, hoặc dành thời gian trong phòng xưng tội, đều biết rằng những rủi ro không được phân biệt rõ ràng. Ý thức về sự tổn thương thấm đẫm thời đại chúng ta như một màn sương mù.

Thật ấn tượng khi sống Mùa Chay trong bối cảnh như vậy, khi chúng ta hướng ánh nhìn vào một cơ thể bị thương, căng phồng và khẳng định rằng ở đây có thể tìm thấy hy vọng. Trong nhiều thế kỷ, Giáo hội đã thận trọng trong việc trưng bày những vết thương của Cuộc Khổ nạn của Chúa Ki-tô. Giáo hội bận rộn diễn đạt bằng lời lẽ nghịch lý tạo nên cốt lõi của giáo lý Ki-tô giáo: rằng trong Chúa Ki-tô, thần tính và nhân tính đều hiện diện một cách trọn vẹn, rằng người đàn ông “sinh ra từ Đức Trinh Nữ Maria” này cũng là “Thiên Chúa từ Thiên Chúa, Ánh sáng từ Ánh sáng”. Chỉ khi Công đồng Can-xê-đoan tinh chỉnh khuôn khổ khái niệm cần thiết để bảo vệ sự cân bằng này, tinh thần Ki-tô giáo mới được tự do hình dung, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng nghệ thuật, bằng hình ảnh, sự hạ mình tự nguyện của Thiên Chúa làm người. Thánh giá nổi lên như biểu tượng tối cao của Ki-tô giáo. Nó chiếm vị trí trung tâm trong thực hành thờ phượng, ít nhất là ở phương Tây, nơi những hình ảnh về một Thiên Chúa bị thương trở thành tâm điểm của các nhà thờ và các công trình khác, dần dần hình thành ý thức cộng đồng.

Nhắc nhở các tín hữu Ki-tô giáo ở Cô-rin-tô về việc ngài đến giữa họ, Thánh Phao-lô viết: “Tôi không đến để loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa cho anh em bằng những lời lẽ cao siêu hay khôn ngoan. Vì tôi đã quyết định không biết gì khác giữa anh em ngoài Chúa Giê-su Ki-tô và Đấng bị đóng đinh trên thập giá.’ Tính trung tâm tuyệt đối của cuộc Khổ nạn cứu rỗi của Chúa Giê-su đã thấm nhuần giáo lý của vị giảng đạo vô song này về sự hòa giải, lòng thương xót, sự biến đổi nhờ ân sủng, niềm vui và sự sống đời đời. Cần có lòng can đảm để noi theo gương Người trong một nền văn hóa cám dỗ chúng ta tiếp thị một Tin mừng hạnh phúc hơn, có thể dự đoán được bằng các quy trình cố định và kết quả đã định sẵn. Xung quanh chúng ta, những gian giữa bị che khuất bởi thập giá của các nhà thờ cổ kính được giao cho sân golf mini. Các thánh đường được sử dụng cho các vở kịch thế tục được thiết kế, trong tuyệt vọng, để thể hiện ‘sự phù hợp’.

Trong khi đó, cách đó không xa, trong đấu trường thế tục, những người trẻ tuổi buồn bã lắc lư, khẽ hát rằng cuộc sống là một vết thương hở và không có thuốc chữa nào ở Gilead.

Hai xu hướng trái ngược nhau đánh dấu những nỗ lực đương thời để đối phó với những vết thương. Một mặt, mọi người dễ dàng trưng bày những vết thương mắc phải, thừa hưởng hoặc tưởng tượng như những dấu hiệu của bản sắc. Họ có thể có những lý do chính đáng, những lý do dựa trên lời kêu gọi công lý. Nhưng như Thánh Bernard đã giải thích, triển vọng về động lực sẽ mất đi nếu chúng ta bám rễ vào sự gắn bó với một vết thương. Chúng ta có nguy cơ bị sa lầy trong sự giận dữ, một cảm xúc thay thế khát vọng chữa lành bằng những khẳng định về sự tự cho mình là đúng. Sự giận dữ và phản chiếu của nó, sự cay đắng, có thể giam cầm chúng ta trong sự tuyệt vọng tự mãn một cách méo mó.

Mặt khác, có những nỗ lực nhằm xóa bỏ vết thương. Chúng ta nghe thấy những lời ám chỉ rằng vết thương không nên hiện hữu và nếu chúng hiện hữu, thì những chi bị bệnh nên được cắt bỏ. Trong các xã hội trở nên mang tính giao dịch, những yếu tố không hữu hiệu hoặc không đáng yêu không có chỗ đứng. Chúng được coi là những sự việc kỳ quặc, bị đối xử khắc nghiệt. Thái độ này thể hiện rõ trong các cuộc tranh cãi đang diễn ra về phá thai và an tử, cũng như trong những cuộc thảo luận lặp đi lặp lại về thuyết ưu sinh. Nó được thấy trong những giấc mơ đen tối về việc giải thoát xã hội khỏi những người không mong muốn, những người mà một số chính trị gia sẽ giam giữ trong các khu bảo tồn hoặc đẩy xuống vực thẳm.

Người ta có thể diễn giải sự phát triển này theo nhiều cách khác nhau. Khó có thể phủ nhận rằng sự lu mờ trong nhận thức cộng đồng về hình tượng Đấng Chịu Đóng Đinh, Đấng Bị Thương nhưng Không Bị Đánh Bại, có liên quan đến điều này. Một nền văn minh, ở một bình diện nào đó, tìm kiếm thước đo của mình trong một hình ảnh khẳng định tầm vóc của sự kiên nhẫn và đau khổ cứu chuộc, đã thay đổi. Nó có thể học được lòng cảm thông, điều không tự nhiên đối với loài người sa ngã.

Lòng tôn kính đối với những vết thương của Chúa Ki-tô đã định nghĩa sự nhạy cảm của Ki-tô giáo trong nhiều thế kỷ. Nó được thể hiện trong lòng sùng kính các thánh tích của Cuộc Khổ Nạn; trong Chặng Đường Thánh Giá; trong thi ca và hội họa; trong các tác phẩm âm nhạc từ những khúc than khóc thời Phục Hưng đến những bản nhạc về Cuộc Khổ Nạn của Bach và thánh ca thế kỷ XIX. Nó được phát biểu trong việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu lan rộng khắp thế giới sau những cơn thịnh nộ của các cuộc cách mạng. Cốt lõi của nó là sự tôn trọng đối với mầu nhiệm to lớn của sự đau khổ, cấu thành nên thân phận con người như chúng ta biết. Thánh Giá cho phép chúng ta chấp nhận thực tại trong khi nó khẳng định tính không phải là kết thúc của những vết thương, những vết thương có thể được chữa lành và trở thành nguồn chữa lành. Bám rễ vào mầu nhiệm đức tin này chính là việc tiến hành một cuộc nổi dậy mang tính xây dựng chống lại một số trá ngụy: chống lại trá ngụy chính trị rằng xã hội và nhà nước nên được vận hành theo mô hình tiến hóa dựa trên sự hoàn thiện của con người; chống lại trá ngụy nhân học về 'sức khỏe' được sử dụng để phân chia giữa những cuộc sống 'đáng sống' và những cuộc sống 'không đáng sống'; chống lại trá ngụy văn hóa gán cho vết thương một sức mạnh định mệnh, chết chóc; và chống lại trá ngụy tâm lý đầu hàng trước sự tuyệt vọng, bị mê hoặc bởi giọng nói thì thầm bên tai chúng ta, vào giữa đêm khuya, về những tổn thương sâu kín nhất của chúng ta: 'Nó sẽ luôn như thế này'.

Sự Khổ nạn của Chúa Ki-tô cho phép chúng ta than khóc mà không giận dữ. Nó mở lòng chúng ta đến lòng thương xót, một phạm trù nhận thức luận thích hợp để chuẩn bị cho một cái nhìn sâu sắc được ban ân sủng như của Gióp: 'Con đã nghe về Ngài bằng tai, nay mắt con thấy Ngài'. Chúng ta có thể kêu lên với Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh: 'Lạy Chúa và là Thiên Chúa của con!' Tin mừng nói rằng những vết thương của Chúa Ki-tô, sau khi Người phục sinh, không được xóa bỏ mà được làm cho vinh hiển. Những vết thương của thế gian cũng có thể được như vậy, khi dầu và rượu của Chúa Ki-tô được đổ lên chúng.

Đối với những người tin, Thập Giá vừa là biểu tượng vừa là đài tưởng niệm của một biến cố. Biểu tượng về Cuộc Khổ nạn của Chúa Ki-tô không phải là thứ chúng ta tạo ra. Nó đã được ban cho chúng ta. Nó diễn giải chúng ta, chứ không phải chúng ta diễn giải nó. Điều này đáng được nhấn mạnh khi chúng ta bơi ngược dòng của chủ nghĩa tư bản biểu tượng đang hướng tới việc "sản xuất tri thức". Trong thế giới ảo này, "sự thật" là những hiện vật. Các câu chuyện, hình ảnh và dữ liệu được buôn bán để duy trì sự thay đổi, từ đó thúc đẩy sự tiêu thụ. Thật khó để hiểu một điều gì đó và thay đổi nó cùng một lúc. Kết quả là, việc tìm kiếm sự rõ ràng đóng vai trò thứ yếu trong diễn ngôn công cộng hiện nay, với những lời lẽ phù phiếm và biểu tượng thất thường được thiết kế để gây hoang mang.

Tuy nhiên, con người khao khát sự hiểu biết. Nó được định nghĩa bởi nhu cầu đặt câu hỏi: "Tại sao?". Nó cần tư duy rõ ràng và niềm hy vọng lấy Chúa Ki-tô làm trung tâm của Giáo hội. Nó cần sự định hướng vững chắc của Giáo hội. Nó cần những biểu tượng của Giáo hội, những biểu tượng thực tế, khác biệt với thế giới, tập trung vào một thân thể bị tổn thương trong lịch sử, vào sự hấp hối của cái chết, vào số phận vĩnh hằng của "toàn thể con người, bao gồm cả thể xác và linh hồn". Quan điểm cao cả của đức tin chúng ta được xây dựng trên những thực tại đã xảy ra và vẫn đang tiếp diễn trong sự hiệp thông của thân thể huyền nhiệm của Chúa Ki-tô. Chúng ta tuyên xưng rằng Lòng Nhân Từ biến đổi đã thấm đẫm nỗi đau khổ của con người ngay cả trong những biểu hiện cực đoan nhất, vươn tới tận đáy địa ngục, và do đó không có sự tuyệt vọng nào là cuối cùng.

Đó là Tin Mừng của chúng ta. Thời đại chúng ta đang kêu gọi điều đó. Những người trẻ tuổi than khóc trong công viên với trái tim nặng trĩu khao khát điều đó. Họ lắng nghe khi nó được trình bày “với thẩm quyền” bởi những Ki-tô hữu có khả năng vừa trình bầy vừa biểu lộ chân lý của nó mà không thỏa hiệp, cho thấy quyền năng ân sủng của Chúa Ki-tô để đổi mới và biến đổi cuộc sống.

Tại Clairvaux năm 1139, Thánh Bernard đã giảng bài thuyết giáo cuối cùng của ngài về Thánh vịnh 90 (91) vào đêm trước Lễ Phục Sinh. Nó toát lên niềm vui sướng của một vận động viên đã hoàn thành cuộc đua. Thánh Benedict nói: Cuộc sống của một đan sĩ nên là một Mùa Chay liên tục, luôn tập trung vào chiến thắng của Chúa Ki-tô trước cái chết. Mùa phụng vụ cho thấy trọng tâm của sự tồn tại của chúng ta như vậy. Thánh Bernard đã nói rõ điều này. Những thử thách trong cuộc sống là những cơn đau đẻ. Chúng giúp chúng ta khám phá ý nghĩa của sự sống: “Chúng ta sống trọn vẹn khi cuộc sống tràn đầy sức sống và mang lại sự sống.” Chúng ta sinh ra để đơm hoa kết trái. Có một “niềm hy vọng vinh quang” trong hoạn nạn, Thánh Bernard nói với các tu sĩ của ngài trước khi ngài tự sửa lại và nói, không, vinh quang nằm trong hoạn nạn, giống như quả nằm trong hạt giống. Ngài thốt lên: “Hỡi anh em, vinh quang ẩn giấu trong hoạn nạn ngay bây giờ; sự vĩnh hằng ẩn giấu trong khoảnh khắc hiện tại, một sức nặng cao cả, vô cùng lớn lao trong sự nhẹ nhàng này.”

Sự đảo ngược đã hoàn tất. Điều đè nặng chúng ta hiện tại thiếu đi bản chất lâu dài. Sức nặng của vinh quang kéo chúng ta lên trên, hướng tới một vinh quang huy hoàng, muôn màu muôn vẻ. Được cấu thành để được chia sẻ trọn vẹn trong sự sống của Chúa Ki-tô, chúng ta sẽ biết được niềm vui kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng tuyên bố trong Thánh vịnh 90 (91), “Ta ở cùng Người trong hoạn nạn”. Người cũng nói: “Niềm vui của Ta là được ở cùng con cái loài người.” “Ôi Emmanuel,” Thánh Bernard đáp lại: “Chúa ở cùng chúng ta!” Ngài nói thêm: “Kính chào, Đấng đầy ơn phúc, Chúa ở cùng Mẹ,” khéo léo phác họa đặc tính của Đức Mẹ, sự trưởng thành được ân sủng dẫn đến sự trưởng thành Ki-tô hữu đích thực. Chúa biết điều chúng ta mong muốn và khát khao, điều gì hợp khẩu vị của chúng ta. Chúng ta không được bằng lòng với những điều quá nhỏ bé. Chúng ta phải biết và tuyên xưng, chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của ai, chúng ta có khả năng đạt được sự vĩ đại nào, nhờ ân sủng.

Sáng hôm sau khi giảng bài thuyết giáo cuối cùng này, Thánh Bernard sẽ mở cuốn Ca Tiến Cấp (Gradual) của ngài để hát khúc nhạc mở đầu Phục Sinh: bài Resurrexi [Ta đã sống lại] tuyệt đẹp ở giọng thứ sáu, giọng “trầm”, một biểu hiện âm nhạc của sự trang nghiêm dâng trào. Tác phẩm phụng vụ này tuyên bố sự phục sinh với sự kinh ngạc thầm lặng. Nó nâng lời ca ngợi của Giáo hội trước ngôi mộ trống vào vòng tay vĩnh cửu của Chúa Ba Ngôi. Cuối cùng được kéo vào vòng tay đó bởi chiến thắng Phục Sinh của Chúa Ki-tô, chúng ta sẽ thấy như chúng ta được thấy, biết như chúng ta được biết. Cuối cùng chúng ta sẽ yêu thương một cách trọn vẹn. Hiện tại, chúng ta vẫn biết và thấy được một phần nào đó khi thức canh trong đêm. Chúng ta làm việc. Chúng ta phục vụ. Chúng ta giảng dạy. Chúng ta chiến đấu khi cần thiết. Chúng ta cố gắng yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, mắt luôn hướng về Chúa Giê-su, người tiên phong của đức tin chúng ta. Người, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là ngọn đèn của chúng ta. Ánh sáng nhân từ của Người, ngay cả khi giấu ẩn, cũng vẫn tràn đầy niềm vui.