SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân

Nhà Xuất Bản Ignatius Press San Francisco

PHẦN II Nguồn gốc của Lạm dụng Tình dục bởi Giáo sĩ


Chương 9. Vai trò của đồng tính luyến ái: Đồng tính luyến ái có gây ra lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên không?

Đồng tính luyến ái có gây ra lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên không? Không. Có mối liên hệ nào giữa đồng tính luyến ái và lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên không? Có. Mối liên hệ đó là gì? Sự chưa trưởng thành.

Cha Hans Zollner là một linh mục Dòng Tên người Đức và là thành viên của Ủy ban Bảo vệ Trẻ vị thành niên của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Khi được hỏi về việc liệu đồng tính luyến ái có gây ra lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên hay không, cha đã nổi nóng. Cha nói, “Có một bộ phận nhỏ nhưng rất hung hăng cho rằng đồng tính luyến ái gây ra hành vi lạm dụng, điều mà nếu bạn suy nghĩ một chút thì hoàn toàn vô lý, nhưng mọi người vẫn giữ vững quan điểm đó.” (1) Mặc dù về mặt kỹ thuật cha đúng, nhưng câu trả lời của cha gây hiểu lầm.

Hầu hết mọi hành vi của con người đều do nhiều yếu tố gây ra. Đó là lý do tại sao các nhà khoa học xã hội nói về phân tích đa biến [multivariate]. Tính đơn nhân quả, hành vi chỉ do một nguyên nhân duy nhất gây ra, là cực kỳ họa hiếm. Một ví dụ như vậy là một người rụt tay lại khi vô tình chạm vào bếp nóng. Nhiệt độ là nguyên nhân, hay biến tố độc lập, và việc rụt tay lại là kết quả, hay biến tố phụ thuộc. Đôi khi có các biến tố trung gian: khi biến tố độc lập không giải thích đầy đủ sự hiện hữu của biến tố phụ thuộc, có thể có một số biến tố nằm giữa hai biến tố đó giải thích mối quan hệ tốt hơn. Ví dụ, có mối quan hệ giữa trình độ học vấn (biến tố độc lập) và thu nhập (biến tố phụ thuộc). Nhưng liệu trình độ học vấn có quyết định số tiền mà một người kiếm được không? Không, nhưng nếu chúng ta thêm nghề nghiệp làm biến tố trung gian, chúng ta thấy rằng trình độ học vấn có liên quan đến các công việc có địa vị cao hơn, và điều đó, đến lượt nó, giải thích mức thu nhập.

Chúng ta đã thấy rằng những người đồng tính, cả trong và ngoài giới linh mục, chiếm tỷ lệ cao hơn trong số những người lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Nhưng điều này không giống như việc nói rằng đồng tính luyến ái gây ra lạm dụng: đơn giản là không đúng khi nói rằng hầu hết những người đồng tính luyến ái lạm dụng trẻ vị thành niên. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần giải thích tại sao những người đồng tính luyến ái lại chiếm tỷ lệ không cân xứng trong các vụ lạm dụng.

Hãy xem xét hai ví dụ khác để làm rõ cùng một điểm. Người Ái Nhĩ Lan chiếm tỷ lệ cao hơn trong số những người nghiện rượu. Người Mỹ gốc Hoa chiếm tỷ lệ cao trong số những người nghiện cờ bạc. Rõ ràng, việc là người Ái Nhĩ Lan không khiến một người trở thành người nghiện rượu, cũng như việc là người Trung Quốc không khiến một người trở thành người nghiện cờ bạc. Nhưng phải có điều gì đó giải thích mối quan hệ này. Điều đó chính là lịch sử.

Tiến sĩ Garrett O’Connor đã nghiên cứu lịch sử Ái Nhĩ Lan—nghiện rượu không phải là điều mới mẻ đối với người Ái Nhĩ Lan—và đưa ra một nhận xét sắc bén: “Tác động tổng thể của sự đàn áp tôn giáo, cướp đất, nghèo đói cùng cực và lạm dụng quyền lực quân sự không liên tục của thực dân Anh ở Ái Nhĩ Lan trong suốt 700 năm chiếm đóng liên tục đã tạo ra mặc cảm tự ti dân tộc ở người Công Giáo Ái Nhĩ Lan mà tôi xác định là sự xấu hổ ác tính về văn hóa, đặc trưng bởi nỗi sợ hãi mãn tính, sự giận dữ bị kìm nén, sự tự ghét bỏ, sự trì hoãn, lòng tự trọng thấp, niềm kiêu hãnh giả tạo và sự dễ bị tổn thương khi sử dụng rượu để giải tỏa đau khổ—trong quá khứ và hiện tại.” (3)

Có nhiều nguyên nhân và hậu quả trong câu chuyện này. Nói tóm lại, một khi nền văn hóa đã được định hình bởi những lực lượng mạnh mẽ như vậy, thì một số đặc điểm nhất định sẽ được ghi khắc vào đó. Việc sử dụng rượu là một trong những đặc điểm văn hóa đó. Vì vậy, có thể biến tố trung gian giữa việc là người Ái Nhĩ Lan (biến tố độc lập) và chứng nghiện rượu (biến tố phụ thuộc) chính là những khó khăn đã in dấu trong lịch sử Ái Nhĩ Lan.

Từ năm 1882 đến năm 1943, Đạo luật Loại trừ người Trung Quốc đã cấm di cư từ Trung Quốc sang Hoa Kỳ. Vào thời điểm đó, số lượng đàn ông Trung Quốc ở Mỹ nhiều hơn phụ nữ Trung Quốc rất nhiều. Đàn ông Trung Quốc đã đổ xô đến California sau khi vàng được phát hiện vào năm 1849. Sau đó, luật năm 1882 lại làm cho tình hình tồi tệ hơn bằng cách cấm phụ nữ Trung Quốc đến Mỹ. Điều này giải thích như thế nào về tỷ lệ người Trung Quốc cao trong số những người đánh bạc? Bất cứ khi nào có sự tập trung cao của nam giới, chẳng hạn như trong quân đội, một số đặc điểm của nam giới (ví dụ: hành vi mạo hiểm) có xu hướng chiếm ưu thế. Một trong số đó là cờ bạc. Chính sự tập trung cao của nam giới Trung Quốc, được định hình bởi lịch sử của họ ở Mỹ, đã giải thích tỷ lệ đánh bạc tương đối cao của họ. Nói cách khác, chính hồ sơ nhân khẩu học của họ, được định hình bởi các yếu tố lịch sử, đã giải thích khuynh hướng đánh bạc của họ.

Về người đồng tính, tỷ lệ lạm dụng tình dục cao hơn của họ không phải do khuynh hướng tình dục của họ gây ra. Tuy nhiên, khuynh hướng tình dục của họ có liên quan đến tình trạng chưa trưởng thành, và điều đó giải thích khả năng họ lạm dụng trẻ vị thành niên cao hơn. Sự chưa trưởng thành là biến tố trung gian. Nói cách khác, sự chưa trưởng thành của họ là một hàm số của khuynh hướng tình dục—người đồng tính có nhiều khả năng chưa trưởng thành hơn người dị tính—và sự chưa trưởng thành có liên quan đến việc lạm dụng trẻ vị thành niên.

Các yếu tố góp phần vào tác phong lạm dụng

Trước khi xem xét bằng chứng về sự chưa trưởng thành và vai trò của nó trong hồ sơ tâm lý của người đồng tính, điều hữu ích là thảo luận về các yếu tố khác giải thích tỷ lệ lạm dụng cao hơn ở người đồng tính.

Những người đàn ông có cùng khuynh hướng tình dục có nguy cơ bị lạm dụng tình dục cao hơn nhiều so với những người đàn ông khác. Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tỷ lệ này cao hơn đáng kể. Có sự đồng thuận rằng những người đàn ông bị lạm dụng tình dục khi còn nhỏ có nhiều khả năng lạm dụng trẻ em khi trưởng thành. (4) Hồ sơ của Viện Saint Luke về các linh mục phạm tội tình dục cho thấy hơn 50% trong số họ bị lạm dụng khi còn nhỏ; ước tính trong dân số nam giới lạm dụng nói chung là khoảng 30%. (5)

Tương tự, các tác giả của John Jay nhận thấy rằng “các linh mục bị lạm dụng tình dục khi còn nhỏ có nhiều khả năng lạm dụng trẻ vị thành niên hơn những người không có tiền sử bị lạm dụng.” (6) Đây là một sự kiện bi thảm của cuộc sống cần được đưa vào quá trình sàng lọc các ứng viên cho chức linh mục. Còn có những vấn đề khác, mang tính chất hữu cơ hơn, cũng cần được xem xét kỹ lưỡng.

Sau khi xem xét các nghiên cứu khoa học về hồ sơ tâm lý của người đồng tính, Tiến sĩ Richard Fitzgibbons và Dale O’Leary nhận thấy rằng những người đàn ông với xu hướng tình dục đồng tính “có nhiều khả năng hơn dân số nói chung mắc các rối loạn tâm thần, vấn đề lạm dụng chất gây nghiện, ý định tự tử, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, và thiếu chung thủy và bền vững trong các mối quan hệ yêu đương.” (7) Họ trích dẫn các nghiên cứu từ Tân Tây Lan, Hoà Lan và Anh đưa ra những kết luận tương tự. Ngay cả những người ủng hộ quyền của người đồng tính cũng thừa nhận rằng người đồng tính đang phải đối diện với nhiều vấn đề tâm thần, mặc dù họ có xu hướng đổ lỗi cho tình trạng của mình là do một xã hội thù địch. Nhưng như Fitzgibbons và O’Leary chỉ ra, Hoà Lan khá khoan dung với người đồng tính, nhưng những vấn đề tương tự vẫn hiện hữu ở đó.

Họ kết luận rằng “bằng chứng cho thấy rõ ràng rằng những người đàn ông tự nhận mình là ‘đồng tính’ có nhiều khả năng gặp các vấn đề tâm lý, vấn đề lạm dụng chất gây nghiện và vấn đề với những người có thẩm quyền.” (8) Vì những lý do này, họ khuyến nghị thực hiện chính sách cấm người đồng tính tham gia chức tư tế nếu họ thể hiện “xu hướng đồng tính luyến ái sâu xa”. Điều này sẽ làm giảm thiểu “tình trạng lạm dụng đồng tính luyến ái đối với thanh thiếu niên và trẻ em trong tương lai”. (9)

Sự thiếu chung thủy và tính bền vững của các mối quan hệ yêu thương mà Fitzgibbons và O’Leary đề cập như một đặc điểm của người đồng tính được thể hiện rõ nhất trong lối sống phóng túng của nhiều người đồng tính. Theo nhà trị liệu tâm lý Zev Ballen, khi bình luận về sự phóng túng nói chung, “mối tương quan giữa sự phóng túng tình dục, trầm cảm và tự tử là rất rõ ràng. Vô số người đang cố gắng lấp đầy bằng tình dục—điều này sinh ra cảm giác tội lỗi, tự ghét bản thân, trống rỗng và xấu hổ.” (10) Những người đồng tính phóng túng cũng gặp phải những vấn đề này cũng như những vấn đề khác.

Năm 2017, Huffington Post đã đăng một bài viết thẳng thắn đến tàn nhẫn của nhà báo Michael Hobbes về sự phóng túng trong cộng đồng người đồng tính. Ông nói: “Hiện nay, tùy thuộc vào nghiên cứu, người đồng tính có khả năng tự tử cao gấp 2 đến 10 lần so với người dị tính. Chúng ta có nguy cơ mắc chứng trầm cảm nặng cao gấp đôi.” Phần lớn điều này bắt nguồn từ việc người đồng tính không thể hình thành những mối quan hệ bền chặt. “Mặc dù người ta nói nhiều về ‘gia đình do chúng ta lựa chọn’, nhưng nam giới đồng tính có ít bạn thân hơn người dị tính hoặc nữ giới đồng tính.” (11)

Làm thế nào mà trong thời điểm quyền của người đồng tính ngày càng được chấp nhận rộng rãi, lại có quá nhiều người đồng tính không hạnh phúc? Quan điểm phổ biến, được nhiều người làm việc trong lĩnh vực truyền thông, trường học và chính phủ chia sẻ, là việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và sự chấp nhận của công chúng sẽ dẫn đến sự gia tăng tổng thể về hạnh phúc của người đồng tính. Điều này nghe có vẻ hợp lý, nhưng không có bằng chứng nào để chứng minh điều đó.

Thật vậy, như Hobbes đã chỉ ra, “ở Hoà Lan, nơi hôn nhân đồng tính đã được hợp pháp hóa từ năm 2001, nam giới đồng tính vẫn có nguy cơ mắc rối loạn tâm trạng cao gấp ba lần so với nam giới dị tính, và có nguy cơ tự gây thương tích cao gấp 10 lần.” Tình hình cũng không khác gì ở Thụy Điển, thiên đường tình dục của giới thượng lưu. Người Thụy Điển đã có liên minh dân sự từ năm 1965 và hôn nhân đồng tính từ năm 2009, nhưng “nam giới kết hôn với nam giới có tỷ lệ tự tử cao gấp ba lần so với nam giới kết hôn với nữ giới.” (12)

Liệu người đồng tính có tốt hơn khi sống khép kín hơn là công khai? Theo Hobbes, “Một nghiên cứu được công bố năm 2015 cho thấy tỷ lệ lo âu và trầm cảm cao hơn ở nam giới mới công khai giới tính so với nam giới vẫn còn sống khép kín.” (13) Đây không phải là lời kêu gọi ép buộc người đồng tính quay trở lại sống khép kín, mà là lời cảnh tỉnh cho những người nghĩ rằng sự chấp nhận của xã hội sẽ mang lại sức khỏe tâm lý tốt hơn cho người đồng tính.

Sự chưa trưởng thành ở người đồng tính

Có vẻ như sự chưa trưởng thành là biến tố giải thích rõ nhất mối liên hệ giữa đồng tính luyến ái và lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Cần nhớ rằng các nhà nghiên cứu của Đại học John Jay đã báo cáo rằng các linh mục bị buộc tội thường viện dẫn sự chưa trưởng thành của chính họ như một cách để hợp lý hóa hành vi của mình: “Một lý do phổ biến để phạm tội là sự chưa trưởng thành về tình dục.” Báo cáo cũng lưu ý rằng “ngoài việc chưa trưởng thành về mặt tình dục, họ còn thể hiện sự chưa trưởng thành về mặt cảm xúc.” (14) Mặc dù điều này không thể được chấp nhận như một sự bào chữa, nhưng những linh mục lạm dụng tình dục này hiểu chính xác tình trạng của chính họ. Thật vậy, họ đã đưa ra chẩn đoán chính xác: họ đồng tính luyến ái. Tình trạng tình dục của họ có liên quan đến sự chưa trưởng thành, cả về tình dục và cảm xúc, điều này giải thích khuynh hướng lạm dụng trẻ vị thành niên của họ. Họ là những người đàn ông chưa trưởng thành, có mối quan hệ về mặt phát triển với những người đàn ông chưa trưởng thành khác.

Sigmund Freud đã nghiên cứu về người đồng tính và không đưa ra kết luận rõ ràng về nguồn gốc của sự hấp dẫn đồng tính. Ông không coi người đồng tính là bất thường, nhưng ông mô tả những người bị thu hút bởi người cùng giới là có “cảm xúc tình dục trái ngược” hoặc là “người đảo ngược”, do đó gọi đồng tính luyến ái là “sự đảo ngược”. (15) Freud không phản đối quan niệm thông thường về dị tính luyến ái, ông nói rằng “mục đích tình dục bình thường được coi là sự kết hợp của bộ phận sinh dục trong hành vi được gọi là giao hợp”, (16) và ông chắc chắn hiểu được điều gì thúc đẩy người dị tính: “Không nghi ngờ gì nữa, lực lượng mạnh nhất chống lại sự đảo ngược vĩnh viễn của đối tượng tình dục là sự hấp dẫn mà các đặc điểm giới tính đối lập tác động lên nhau.” (17)

Freud cho rằng đồng tính luyến ái là do “sự đình trệ nhất định trong sự phát triển tình dục.” (18) Ông đi đến kết luận này bởi vì ông thấy sự phát triển tâm lý tình dục bình thường dẫn đến dị tính luyến ái. (19) Điều gì cản trở sự phát triển này? Theo Freud, sự phát triển tâm lý tình dục của một người đàn ông có thể bị cản trở bởi sự gắn bó quá mức với mẹ của anh ta: “Trong tất cả các trường hợp đồng tính nam của chúng tôi, các đối tượng đều có sự gắn bó tình dục rất mãnh liệt với một người phụ nữ, thường là mẹ của họ… Sự gắn bó này được khơi gợi hoặc khuyến khích bởi sự dịu dàng quá mức từ chính người mẹ, và được củng cố thêm bởi vai trò nhỏ bé của người cha trong thời thơ ấu của họ.” (20)

Freud khá thẳng thắn về sự chưa trưởng thành của những người đồng tính. Ông nói rằng “bất cứ sự lệch lạc nào đã được xác định so với tình dục bình thường” đều là “một trường hợp ức chế phát triển và ấu trĩ”. Ông cũng lưu ý thêm rằng “sự lệch lạc tình dục ở người lớn—sự biến thái, sự sùng bái vật thể, sự đảo ngược (đồng tính luyến ái)… sẽ bộc lộ một sự kiện như tôi đã đề xuất, dẫn đến sự cố định trong thời thơ ấu.” (21)

Carl Jung cũng liên kết đồng tính luyến ái với vấn đề trong mối quan hệ mẹ con. Trong cuốn sách xuất sắc của mình về Jung, Robert H. Hopcke đã viết rằng “Jung coi đồng tính luyến ái là một dạng chưa trưởng thành, một phần do sự xáo trộn trong mối quan hệ với cha mẹ, đặc biệt là với mẹ.” (22) Giống như Freud, ông cho rằng biểu hiện tình dục tự nhiên nhất của con người là dị tính. Như Hopcke đã nói, “Thái độ của Jung đối với đồng tính luyến ái như là sự chưa trưởng thành về mặt tâm lý hoặc trẻ con dựa trên một mục đích luận cho rằng tình dục của con người luôn dẫn đến hành vi dị tính về mặt sinh dục.” (23) Điều này lẽ ra không gây tranh cãi, nhưng do sự miễn cưỡng của các học giả trong việc nói bất cứ điều gì có thể bị coi là chỉ trích người đồng tính, nên nó lại gây tranh cãi. Ngay cả Hopcke cũng thất vọng về quan điểm của Jung. (24)

Đã có những nỗ lực nhằm làm mất uy tín mối liên hệ của Freud giữa sự chưa trưởng thành và đồng tính luyến ái. Ví dụ, một nghiên cứu của giáo sư Mark Biernbaum thuộc Đại học bang California, tuyên bố cho thấy không có sự khác biệt giữa người dị tính và người đồng tính về mức độ trưởng thành, đã đi đến kết luận này bằng cách đo lường cách sinh viên đại học sử dụng một số cơ chế phòng vệ nào đó. (25) Tuy nhiên, thước đo mà ông lựa chọn chỉ liên quan gián tiếp đến những gì Freud đang thảo luận. Các cơ chế phòng vệ ít liên quan đến sự phát triển tình dục trưởng thành.

Nếu người đồng tính đang thiếu sự trưởng thành về tâm lý tình dục, thì điều này liên quan như thế nào đến việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên? Có thể người đồng tính trưởng thành dễ đồng cảm hơn với những người, giống như họ, chưa trưởng thành. Một số người có thể bị mắc kẹt trong tuổi vị thành niên của chính họ. Đức ông Stephen Rossetti, một nhà tâm lý học, đã quan sát thấy rằng một số lượng đáng kể các linh mục lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên có liên quan đến nam thanh niên sau tuổi dậy thì, khoảng 14 đến 17 tuổi. Có vẻ như đúng là nhiều người trong nhóm linh mục lạm dụng trẻ em này có khuynh hướng đồng tính. Nhưng đó là một loại đồng tính luyến ái đặc biệt, mà người ta có thể gọi là “thoái hóa [regressed]” hoặc “còi cọc [stunted]”. Những người đàn ông đồng tính này bị mắc kẹt về mặt cảm xúc ở tuổi vị thành niên, và do đó có nguy cơ quan hệ tình dục với nam thanh niên. Vấn đề không phải là đồng tính luyến ái mà là sự phát triển cảm xúc bị kìm hãm của họ. (26)

Đúng vậy, đồng tính luyến ái không phải là nguyên nhân của lạm dụng tình dục, nhưng việc một số người đồng tính không thể thoát khỏi tuổi vị thành niên khiến họ “có nguy cơ quan hệ tình dục với nam thanh niên”.

Một linh mục tại Đại học Chicago, người đã nghiên cứu về giới giáo sĩ đồng tính, ước tính rằng, vào những năm 1980, khoảng một nửa số linh mục Mỹ là đồng tính luyến ái và “một số lượng lớn trong số họ bị kìm hãm về mặt tâm lý tình dục”. (27) Trong khi những người khác có thể ngần ngại suy đoán lý do tại sao lại như vậy, dường như khuynh hướng đồng tính luyến ái của họ là kết quả của sự chưa trưởng thành về mặt tâm lý tình dục. Sơ Marie-Paul Ross, một nữ tu người Canada có bằng Tiến sĩ về tình dục học lâm sàng, đã lưu ý đến sự chưa trưởng thành về mặt tình dục của các linh mục lạm dụng và nhu cầu “điều trị những lo lắng sâu xa”, chẳng hạn như chấn thương thời thơ ấu, mà những linh mục này trải qua. (28)

Sơ FraFerder, một nhà trị liệu đã điều trị cho các linh mục lạm dụng ở Seattle, đã chứng kiến hiện tượng tương tự. Bà lập luận rằng “có một xu hướng ở nhiều người đàn ông đồng tính, đặc biệt là ở độ tuổi 20, trải qua giai đoạn dậy thì muộn.” Điều này ảnh hưởng như thế nào đến những người đàn ông đang học để trở thành linh mục? “Tôi nghĩ một số người đàn ông đồng tính Công Giáo trì hoãn hoàn toàn và chọn chủng viện như một cách chấp nhận được để không phải đối diện với vấn đề tình dục. Và rồi nó bộc lộ ra khi họ ở độ tuổi 20 hoặc 30, về mặt cảm xúc ở độ tuổi 15 hoặc 16 - một dạng đồng tính luyến ái thoái hóa.” (29)

Vào cuối những năm 1960, khi bắt đầu cuộc cách mạng tình dục, bốn nhà tâm lý học đã nghiên cứu sự phát triển tâm lý tình dục của những người đàn ông bước vào chức linh mục. Họ phát hiện ra rằng 70% “chưa trưởng thành về mặt tâm lý tình dục, thể hiện các đặc điểm của sự chậm phát triển tình dục dị tính, nhầm lẫn về vai trò tình dục, sợ hãi tình dục, nữ tính và có khả năng có khuynh hướng đồng tính luyến ái.” (30) Phần lớn các vụ lạm dụng có thể đã được tránh khỏi nếu các giám mục và viện trưởng chủng viện coi những đặc điểm này là dấu hiệu cảnh báo và từ chối phong chức cho những người đàn ông có sự chưa trưởng thành nghiêm trọng khiến họ không phù hợp với chức linh mục.

David Finkelhor thường được trích dẫn như một chuyên gia về chủ đề này trong các báo cáo của John Jay. Ông đã xác định ba yếu tố liên quan đến việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Thứ nhất, ông nói, linh mục lạm dụng có “nhu cầu cảm xúc chưa trưởng thành”, cho phép ông ta “dễ gần gũi với trẻ em hơn người lớn”. Thứ hai, “nhiều người lạm dụng trẻ em có một mức độ hưng phấn tình dục nào đó đối với trẻ em, dù là bẩm sinh hay do học hỏi”. Thứ ba, những kẻ lạm dụng “có thể gặp phải một số loại tắc nghẽn, hoặc không có khả năng đáp ứng nhu cầu tình dục và/hoặc cảm xúc trong các mối quan hệ người lớn”. (31) Mặc dù đây là hồ sơ của những kẻ lạm dụng, nhưng nó cũng giống với hồ sơ của nhiều người đồng tính.

Cha John Geoghan, kẻ lạm dụng khét tiếng ở Boston, đã thể hiện chính những đặc điểm mà chúng ta mong đợi. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1952, ông vào chủng viện Cardinal O’Connell. Năm 1954, cha xứ của ông viết, “Geoghan đã khiến các giảng viên của chủng viện này lo ngại trong hai năm qua… Anh ấy có sự non nớt rõ rệt… hơi nữ tính trong cách nói chuyện và cách tiếp cận.” (32) Khi đó họ không biết rằng “sự non nớt rõ rệt” là một dấu hiệu cảnh báo. Ngày nay, vẫn còn nhiều người không biết điều đó.

Một linh mục hiểu được sự non nớt báo hiệu điều gì là Cha Paul Shaughnessy. Cha viết về “rối loạn tâm lý của người đàn ông bị mắc kẹt trong ham muốn tình dục đồng tính luyến ái cưỡng bức, được đánh dấu bằng sự ích kỷ và khao khát thỏa mãn của tuổi vị thành niên, cùng với sự vô trách nhiệm và thiếu kiểm soát của tuổi vị thành niên”. Cha cho rằng những người đàn ông này thể hiện trong đời sống tình dục của họ sự “thiếu chín chắn, thù địch và vô trách nhiệm”, dẫn đến việc họ đặt sự thỏa mãn cá nhân lên trên lợi ích chung.(33)

USA Today đã công bố một nghiên cứu tiết lộ về các linh mục bị buộc tội vào năm 2019. Một cựu tu sĩ Công Giáo Rô-ma, John Dagwell, đã nhận tội lạm dụng tình dục một học sinh vào năm 1988. Khi được thả khỏi tù, ông nói, “Tôi đã tránh xa thanh thiếu niên.” Phóng viên đã ghi chú lại căn hộ của ông. “Khi ông nói, ba con gấu bông nằm trên tivi của ông và nửa tá búp bê nhồi bông Disney —Mickey Mouse, Goofy, Jiminy Cricket—được sắp xếp cẩn thận trên một tủ đựng đồ sứ.” (34) Một kẻ lạm dụng khác, một cựu tu sĩ dòng Phanxicô, nói, “Có điều gì đó ở tôi khiến tôi hạnh phúc hơn khi ở bên cạnh một cậu bé nhỏ… Có lẽ ngoài yếu tố tình dục, đứa trẻ trong tôi muốn có một người bạn chơi cùng.” (35)

Còn tiếp