Niwa Limbu, trong bản tin của Catholic Herald ngày 13 tháng 1, 2026, cho biết: Vào cuối phiên họp của công nghị đặc biệt, các nhân vật cấp cao của Giáo hội đã giải đáp các câu hỏi về tính đồng nghị và vai trò của giáo dân trong một cuộc họp báo của Tòa Thánh.



Buổi họp báo có sự tham gia của Hồng Y Luis José Rueda Aparicio, Hồng Y Stephen Brislin và Hồng Y Pablo David, đưa ra những hiểu biết của họ về cách thức tiến trình đồng nghị đang được hiểu khi nó phát triển. Tờ Catholic Herald đã hỏi các Hồng Y làm thế nào để đảm bảo tính đồng nghị, được một số người mô tả là còn non trẻ, vẫn bám rễ vào giáo lý và truyền thống, và những sự khác biệt nào đang được đưa ra giữa sự tham gia hợp pháp của giáo dân và các chức năng dành riêng cho chức linh mục và giám mục.

Đức Hồng Y David trả lời đầu tiên, chọn bắt đầu với câu hỏi về sự tham gia của giáo dân và chức linh mục. Ngài nói: “Tôi muốn bắt đầu với câu hỏi thứ hai, đó là về sự tham gia hợp pháp của giáo dân, chức năng trung tâm của chức linh mục”. Ngài đặt tính đồng nghị vững chắc trong khuôn khổ truyền giáo, và nói thêm: “Tính đồng nghị được xây dựng trên khái niệm trách nhiệm chung trong truyền giáo. Trước đây, chúng ta thường nghĩ truyền giáo là công việc của các hội dòng truyền giáo. Giờ đây, khi nói về truyền giáo, chúng ta đang nói về sứ mệnh của toàn thể Giáo hội. Chúng ta không phải là Giáo hội nếu không tham gia vào việc truyền giáo.”

Ngài tiếp tục bằng cách liên kết việc truyền giáo với trách nhiệm tông đồ hơn là làm môn đệ thụ động. “Kitô giáo không chỉ là việc làm môn đệ hay việc tuân theo. Nó còn là về tính tông đồ, về sứ mệnh tông đồ, tức là tham gia vào truyền giáo,” ngài nói. Đề cập đến tông huấn Evangelii Gaudium, Đức Hồng Y David định nghĩa truyền giáo là “rao giảng niềm vui an ủi của Tin Mừng, đặc biệt là cho những người cần tin mừng nhất, những người đang vật lộn với sự tuyệt vọng, những người bị tổn thương, những người tan vỡ.”

Giải quyết trực tiếp vấn đề sự tham gia của giáo dân, Đức Hồng Y David đã chỉ ra điều được ngài mô tả như một vấn đề cấu trúc trong Giáo hội. Ngài nói: “Tôi nghĩ rõ ràng một trong những trở ngại trong Giáo hội là chủ nghĩa giáo sĩ trị”. Ngài cảnh báo rằng việc nói về trách nhiệm chung sẽ trở nên vô nghĩa nếu thái độ vẫn không thay đổi.

“Chúng ta thích nói về trách nhiệm chung trong việc truyền giáo, nhưng giáo dân sẽ khó có thể thực sự tham gia vào đời sống và sứ mệnh của Giáo hội nếu có một thái độ phổ biến cho rằng, ‘Tôi là người nắm quyền kiểm soát.’”

Ngài liên kết não trạng này với sự hiểu biết quá mức về chức thánh. “Vì chúng ta được thụ phong, chúng ta được cho là những người định hướng cho Giáo hội,” ngài nói, trước khi nói thêm: “Thông qua tính đồng nghị, chúng ta cho phép các lĩnh vực khác của Giáo hội, ngoài những người được thụ phong, cũng được lắng nghe, tiếng nói của họ được lắng nghe, giáo dân và các tu sĩ.”

Chuyển sang mối lo ngại về sự mơ hồ, Đức Hồng Y David bác bỏ ý kiến cho rằng tính đồng nghị là một điều mới lạ. Ngài nói: “Theo tôi, tính đồng nghị đã luôn tồn tại kể từ khi bắt đầu lịch sử Giáo hội. Chúng ta chỉ đang khôi phục lại vốn từ vựng mà thôi”. Ngài giải thích rằng thực chất của tính đồng nghị có thể được diễn đạt mà không cần dùng chính thuật ngữ đó: “Hãy nói về sự hiệp thông, nói về sự tham gia, nói về sứ mệnh, về trách nhiệm chung. Đó chính là tính đồng nghị.”

Về sự bất đồng trong quá trình này, ngài thẳng thắn nói: “Sự bất đồng chắc chắn sẽ xuất hiện”, nhưng cho rằng chính vì lý do này mà “chúng ta tham gia vào các cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần”. Ngài nói tiếp: “Trong khi chúng ta xác định được những điểm tương đồng, chúng ta cũng sẽ xác định được những điểm khác biệt giữa chúng ta.” Ông lập luận rằng sự khác biệt như vậy nên thúc đẩy sự tham gia sâu sắc hơn là gây lo ngại. “Khi có những điểm khác biệt, điều đó có lẽ chỉ có nghĩa là chúng ta cần nhiều cuộc đối thoại hơn.”

Ngài nhấn mạnh rằng lắng nghe là trọng tâm của quá trình này. Ngài nói: “Việc lắng nghe không chỉ là lắng nghe lẫn nhau, mà trên hết là lắng nghe Chúa Thánh Thần nói qua nhau”. Ngài lưu ý rằng sự phân định cộng đồng vẫn là một lĩnh vực đang phát triển. “Các quy tắc phân định, hay phân định cộng đồng, vẫn đang được hoàn thiện trong chính quá trình trải nghiệm tính đồng nghị.”

Đức Hồng Y Rueda Aparicio đáp lại với giọng điệu ôn hòa hơn, nhấn mạnh sự kiên nhẫn và đa dạng trong Giáo hội hoàn cầu. Ngài nói: “Tính đồng nghị và sự tham gia, sự hiệp thông, sự tham gia, sứ mệnh của những người đã được rửa tội, nam nữ, giáo dân, của phần lớn Giáo hội, những người không phải là các thừa tác viên thụ phong mà là các tín hữu giáo dân, đang ở trên đường.”

Suy gẫm về các cuộc thảo luận của công nghị, ngài nhận thấy sự tiến bộ không đồng đều. Ngài nói: “Từ những gì người ta có thể nghe được trong các bài phát biểu những ngày này, ở một số quốc gia đã có nhiều tiến bộ hơn, sự hiện diện nhiều hơn, sự trưởng thành hơn, sự sẵn có nhiều hơn của giáo dân đã đạt được. Ở những quốc gia khác thì vẫn còn thiếu sót.” Ngài cho rằng sự đa dạng này nên định hình những kỳ vọng. “Các vấn đề về sứ mệnh của Giáo hội, về việc đổi mới Tin Mừng, cần thời gian.”

Sau đó, khi Diana Montagna tiếp tục chất vấn về chủ nghĩa giáo sĩ và điều mà bà mô tả là hệ thống phẩm trật do Thiên Chúa thiết lập trong Giáo hội, Đức Hồng Y David trả lời: “Điều mà các bạn đang đề cập đến như là phẩm trật do Thiên Chúa thiết lập, không có gì phải nghi ngờ về phẩm trật trong Giáo hội.” Ngài nói thêm rằng “trong thần học về chức vụ thụ phong, chúng ta nói về chức tư tế thừa tác.”

Ngài nói tiếp rằng chức tư tế thừa tác “sẽ không có ý nghĩa nếu không đặt nó trong bối cảnh chức tư tế chung của các tín hữu, đó là một nguyên tắc thần học rất cụ thể của Công đồng Vatican II.” Mở rộng điểm này, ngài nói rằng khi Giáo hội nói về những người được thụ phong “hành động nhân danh Chúa Kitô, hay trong thân vị của Chúa Kitô, là đầu của thân thể Người, là Giáo hội,” điều này phải được hiểu một cách trọn vẹn. “Chúa Kitô không chỉ là đầu; Chúa Kitô bao gồm cả thân thể,” ngài nói thế và giải thích rằng toàn thể Giáo hội là thân thể của Chúa Kitô và tất cả những người đã được rửa tội đều là thành viên của thân thể đó. Trên cơ sở đó, ngài kết luận rằng “những người được phong chức không độc quyền trong việc hành động nhân danh Chúa Kitô,” và nói thêm rằng giáo dân cũng chia sẻ thực tại này “nhờ cùng một phẩm giá của phép rửa tội mà họ đã nhận được.”

Vấn đề liệu Giáo hội có thể mở rộng sự tham gia mà không làm suy yếu bản chất do Thiên Chúa thiết lập của hệ thống phẩm trật và đời sống bí tích của Giáo hội hay không không chỉ quan trọng vì nó đã được tranh luận trong công nghị, mà còn vì nó liên quan trực tiếp đến bản chất của chức tư tế, quyền uy và ý nghĩa của phép rửa tội, và do đó ảnh hưởng đến cách người Công Giáo hiểu về chính Thân Thể Chúa Kitô.

Những bình luận được đưa ra tại cuộc họp báo của Đức Hồng Y Pablo David trong công nghị bất thường đã làm sáng tỏ lý do tại sao những câu hỏi này đang trở nên không thể tránh khỏi. Khi trình bày tính đồng nghị như một điều được khôi phục chứ không phải được phát minh, và khi coi chủ nghĩa giáo sĩ trị như trở ngại chính đối với sứ mệnh, Đức Hồng Y đã nêu lên một quan điểm được chia sẻ rộng rãi trong số những người thúc đẩy tiến trình đồng nghị. Tuy nhiên, khi tính đồng nghị được thể hiện theo những cách dường như làm mờ đi sự phân biệt thần học giữa chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác, cuộc thảo luận chuyển từ trọng tâm mục vụ sang rủi ro về giáo lý.

Đây không phải là một vấn đề nhỏ. Giáo hội đã từng đối diện với những căng thẳng tương tự trước đây, đặc biệt là trong giai đoạn sau Công đồng Vatican II, khi những lời kêu gọi đổi mới chính đáng đôi khi đi kèm với sự nhầm lẫn về quyền uy, tính bí tích và sự vâng phục.

Hơn nữa, việc sử dụng hiện đại của Thuật ngữ "chủ nghĩa giáo sĩ trị" cần được xem xét kỹ lưỡng hơn. Thường được sử dụng như một thuật ngữ bao quát, nó đã trở thành một từ lên án các thái độ mà không định nghĩa chúng. Sự phổ biến của nó trong diễn ngôn giáo hội phần lớn bắt nguồn từ các trào lưu văn hóa cuối thế kỷ XX, và nó thâm nhập vào cuộc tranh luận Công Giáo chủ yếu thông qua phê bình xã hội học thời Khai sáng hơn là định nghĩa thần học chính xác, đặc biệt là trong các tác phẩm của những nhân vật như James Carroll. Mặc dù rõ ràng là những lạm dụng quyền lực thực sự cần phải được đối diện, nhưng việc sử dụng thường xuyên thuật ngữ "chủ nghĩa giáo sĩ trị" như một từ ngữ mang tính miệt thị có nguy cơ miêu tả chính hệ thống phẩm trật là đáng ngờ.

Tính đồng nghị hiện đang được thúc đẩy thường nói về ngôn ngữ lắng nghe, trách nhiệm chung và đối thoại trong Chúa Thánh Thần. Bản thân những điều này không xa lạ với Kitô giáo. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa tham vấn và đồng quản trị, giữa lắng nghe và định nghĩa lại ai hành động nhân danh Chúa Kitô. Khi người ta cho rằng những người được phong chức không sở hữu đặc tính bí tích độc nhất vô nhị khi hành động nhân danh Chúa Kitô, điều này làm dấy lên những lo ngại ngay lập tức.

Điều đang bị đe dọa không phải là sự chống đối cải cách mà là sự rõ ràng về tính liên tục. Công đồng Vatican II không giải tán hệ thống phẩm trật thành sự tham gia, cũng không thiết lập Giáo dân chống lại giới giáo sĩ. Giáo hội không đòi hỏi một tính đồng nghị cực đoan về mặt chính trị, mà là một tính đồng nghị trung thành theo nghĩa thần học.