Giáo Hội Công Giáo Cổ, tiếng Anh là "Old Catholic Church", là từ ngữ chỉ chung bất kỳ nhóm Kitô hữu phương Tây nào tin rằng họ vẫn trung thành tuyệt đối với giáo lý và truyền thống của Giáo hội thống nhất nhưng đã tách khỏi Tòa thánh Rôma sau Công đồng Vatican thứ nhất trong 2 năm 1869 và 1870.
Tuy nhiên, cần nói ngay rằng chữ "Cổ" trong danh xưng Giáo Hội Công Giáo Cổ không có nghĩa là "chân truyền" hay "truyền thống". Trái lại, nhiều Giáo Hội Công Giáo Cổ rất cấp tiến. Họ phong chức linh mục cho phụ nữ, chúc phúc cho hôn nhân đồng giới, và chấp nhận các linh mục có gia đình.
Lịch sử Giáo Hội bao gồm rất nhiều sóng gió và những chia rẽ đến mức ngày nay chúng ta có nhiều hệ phái Kitô khác nhau. Chúa Giêsu đã thấy trước điều đó nên trước giờ khổ nạn, Ngài đã cầu nguyện rằng ""Con không chỉ xin cho những kẻ ấy mà thôi, nhưng còn cho những kẻ nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả chúng nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để chúng cũng ở trong Chúng Ta, và để thế gian tin rằng Cha đã sai Con. Con đã ban cho chúng vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để chúng nên một như Chúng Ta là một" (Ga 17:21-22)
Sau các cuộc đại ly giáo dẫn đến sự thành lập của Chính Thống Giáo, và các hệ phái Tin lành, một làn sóng phản đối mới nổi lên từ kế hoạch cho Công đồng Vatican I và việc ban hành học thuyết về ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng năm 1870. Có sự phản đối rộng rãi đối với những kế hoạch này, nhân vật nổi bật nhất là nhà sử học Giáo hội J.J. von Döllinger, một trong những học giả Công Giáo Rôma xuất sắc nhất thời kỳ đó. Những phản đối này đã dẫn đến việc ra đời các Giáo Hội Công Giáo Cổ ở Hòa Lan, Đức, Thụy Sĩ, Áo, Ba Lan, Tiệp Khắc và Nam Tư.
Tất cả các Giáo Hội Công Giáo Cổ đều thuộc dạng ly giáo không còn trong tình hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Rôma.
Tín điều về ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng là gì?
Tín điều về ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng, tiếng Anh: Papal Infallibility, được định tín chính thức tại Công đồng Vatican I qua Hiến chế Tín lý Pastor Aeternus hay Mục tử Đời đời vào ngày 18 tháng 7 năm 1870 dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô IX.
Ý nghĩa và bản chất
Không phải mọi lời nói đều đúng: Ơn bất khả ngộ không có nghĩa là mọi ý tưởng, quyết định hay lời nói thường ngày của Đức Giáo Hoàng đều được linh hứng hoặc không thể sai lầm.
Đặc sủng của toàn thể Giáo hội: Đây không phải là sự khôn ngoan riêng của cá nhân vị giáo hoàng, mà là ơn mà Chúa Cứu Thế ban cho toàn thể Giáo hội được phản ánh qua ngài.
Điều kiện ex cathedra hay từ ngai tòa Phêrô: Đức Giáo Hoàng chỉ bất khả ngộ khi ngài dùng quyền tối cao tông đồ để đưa ra một xác quyết trang trọng, dứt khoát buộc toàn thể Giáo hội phải tin liên quan đến đức tin hoặc luân lý
Các ví dụ lịch sử liên quan đến ơn bất khả ngộ
Năm 1854: Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Năm 1950: Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Lược sử hình thành Giáo Hội Công Giáo cổ
Sau công đồng, tất cả các giám mục phe đối lập lần lượt chấp nhận tín điều mới. Nhưng Döllinger vẫn kiên định và cuối cùng bị vạ tuyệt thông. Bản thân ông không tham gia vào việc thành lập các giáo hội ly khai, nhưng phần lớn là do lời khuyên và sự hướng dẫn của ông mà các Giáo Hội Công Giáo Cổ ra đời ở một số quốc gia—Đức, Thụy Sĩ, Áo và những nơi khác.
Năm 1889, Liên hiệp Utrecht được thành lập, và tuyên ngôn Utrecht, được các giám mục Công Giáo Cổ ban hành cùng năm đó, là hiến chương về giáo lý và thể chế của Công Giáo Cổ. Các thành viên của liên hiệp này bao gồm Giáo Hội Công Giáo Cổ của Hòa Lan, Đức, Thụy Sĩ, Áo và Ba Lan. Các Giáo Hội Công Giáo Cổ ở Ba Lan, Tiệp Khắc và Nam Tư đã chịu nhiều thiệt hại trong và sau Thế chiến II, đặc biệt là trong thời kỳ cộng sản.
Trong các Giáo Hội Công Giáo Cổ, cơ quan quyền lực tối cao là hội đồng giám mục. Tổng Giám Mục Utrecht nắm giữ một vị trí tối cao mang tính danh dự. Mỗi giáo phận đều có thượng hội đồng, với sự tham gia đầy đủ của cả giáo sĩ và giáo dân trong mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội, bao gồm cả việc bầu chọn giám mục.
Döllinger ngay từ đầu đã đặt ra sứ mệnh của các Giáo Hội Công Giáo Cổ trong ba mệnh đề: Thứ nhất là "làm chứng cho chân lý và chống lại những sai lầm mới, đặc biệt là sự phát triển tai hại và tùy tiện của các điều khoản mới của đức tin. Thứ hai là dần dần hình thành một Giáo hội phù hợp hơn với Giáo hội cổ xưa không bị chia rẽ. Thứ ba là phục vụ như một công cụ cho sự hợp nhất lớn lao trong tương lai cho các Kitô hữu và Giáo hội bị chia rẽ."
Dựa trên những nguyên tắc này, phái Công Giáo Cổ phủ nhận việc họ giảng dạy bất cứ điều gì trái với giáo lý và truyền thống của Giáo Hội Công Giáo Rôma. Họ chấp nhận Kinh Thánh, Tín điều các Tông đồ và Tín điều Nicê, cùng các phán quyết tín lý của bảy công đồng đại kết đầu tiên. Họ duy trì nền tảng công đồng của Giáo hội và coi trọng truyền thống. Họ chấp nhận bảy bí tích là nghĩa vụ vĩnh viễn trong đời sống của Giáo hội. Chức giám mục được chấp nhận như một hồng ân Thiên Chúa ban cho Giáo hội, trong đó tất cả các giám mục Công Giáo đều được chia sẻ bình đẳng, được các giám mục tiền nhiệm tiếp nhận, những người kế vị chức vụ này được coi liên tục kế thừa từ thời các Tông đồ.
Tuy nhiên, nhiều điểm khác biệt trong thực hành đã phân biệt người Công Giáo Cổ với người Công Giáo Rôma. Phải đến sau Công Đồng Vatican II, chúng ta mới sử dụng ngôn ngữ bản địa trong thờ phượng công cộng nhưng ngay từ thập niên 1890 người Công Giáo Cổ đã áp dụng ngôn ngữ bản địa trong thờ phượng công cộng ở tất cả các quốc gia. Vào thời đó, việc sử dụng ngôn ngữ bản địa trong thờ phượng được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của Cải cách Tin lành. Bên cạnh đó, việc xưng tội với một linh mục là không bắt buộc, và việc sống độc thân của giáo sĩ là tùy chọn ở một số Giáo Hội Công Giáo Cổ.
Có một tin tưởng sai lầm rằng người Công Giáo Cổ giữ giáo lý và truyền thống của Giáo Hội Công Giáo một cách nhiệm nhặt hơn người Công Giáo chúng ta. Điều đó không đúng. Việc hình thành Liên hiệp Scranton tách ra từ Liên hiệp Utrecht là một ví dụ.
Liên hiệp Scranton đã được thành lập vào năm 2008 khi Giáo Hội Công Giáo Cổ Ba Lan, thường được gọi là Giáo Hội Công Giáo Quốc gia Ba Lan, cùng với Giáo Hội Công Giáo Cổ Bắc Âu, tách khỏi Liên hiệp Utrecht để phản đối việc phong chức cho phụ nữ và chúc phúc cho hôn nhân đồng giới. Giáo Hội Công Giáo Quốc gia Ba Lan có khoảng 60.000 thành viên ở Bắc Mỹ.
Giáo Hội Công Giáo Cổ - Thống kê toàn cầu và khu vực
Dân số toàn cầu: Theo Cơ sở dữ liệu Kitô giáo Thế giới và Bách khoa toàn thư Kitô giáo Thế giới, số lượng thành viên Công Giáo Cổ trên toàn cầu ước tính khoảng 4.896.000 người
Liên hiệp Utrecht, gọi tắt là UU: Tổ chức liên hiệp cốt lõi của các Giáo Hội Công Giáo Cổ tập trung chủ yếu ở Âu Châu có số lượng thành viên hoạt động ước tính khoảng 58.806 đến 115.000 người, phản ánh sự suy giảm đều đặn từ khoảng 400.000 thành viên vào đầu những năm 1990.
Phân bố địa lý của Liên hiệp Utrecht: Các giáo hội thành viên được tổ chức trên nhiều quốc gia Âu Châu.
Giáo phận Công Giáo Cổ của Đức có khoảng 15.500 thành viên
Giáo Hội Công Giáo Cổ Áo có khoảng 14.621 thành viên
Giáo Hội Công Giáo Cổ Thụy Sĩ có khoảng 13.500 thành viên
Giáo Hội Công Giáo Cổ Ba Lan và Giáo hội Mariavite Cổ truyền có khoảng 49.000 tín hữu
Giáo Hội Công Giáo Cổ của Hòa Lan có khoảng 10.000 thành viên
Giáo Hội Công Giáo cổ của Cộng hòa Tiệp chỉ còn khoảng vài trăm người
Giáo Hội Công Giáo cổ Rôma Bắc Mỹ có khoảng 37.500 thành viên. Đây là Giáo Hội lớn nhất với 5 giáo phận, 8 Giám Mục trong đó có một Giám Mục người Việt Nam là Giám Mục Giuse Vũ Minh Hùng.
Cấu trúc Thánh lễ trong Giáo Hội Công Giáo Cổ
Cấu trúc khung của Thánh lễ trong Giáo Hội Công Giáo Cổ bắt nguồn từ phụng vụ truyền thống của Giáo Hội Rôma, với hai phần cơ bản là Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể. Tuy nhiên, trên thực tế, Giáo hội này có những khác biệt đáng kể so với Giáo Hội Công Giáo Rôma về ngôn ngữ và thần học.
Về Ngôn ngữ phụng vụ: Giáo Hội Công Giáo Cổ đã hoàn toàn từ bỏ tiếng Latinh từ năm 1877, cử hành toàn bộ Thánh lễ bằng ngôn ngữ bản địa. Trong khi đó, Giáo Hội Công Giáo Rôma: Trong nhiều thế kỷ đã sử dụng tiếng Latinh trong nghi thức Tridentinô mà chúng ta thường gọi là Hình thức thánh lễ Ngoại thường; trong khi đó, nghi thức Novus Ordo hay Hình thức Thông thường sau Công đồng Vatican II cho phép sử dụng ngôn ngữ bản địa bên cạnh việc vẫn giữ lại các tùy chọn bằng tiếng Latinh.
Về Thẩm quyền và kỷ luật phụng vụ: Giáo Hội Công Giáo Cổ được quản trị bởi các hội đồng giáo phận khu vực và Hội nghị Giám mục Quốc tế của Liên Hiệp Utrecht thay vì một cơ chế tập trung dưới quyền Đức Giáo Hoàng; điều này cho phép các giáo hội địa phương của Công Giáo Cổ có quyền tự chủ lớn hơn trong việc điều chỉnh phụng vụ.
Về Bí tích Thánh Thể và việc rước lễ: Giáo Hội Công Giáo Cổ mở rộng việc rước lễ cho tất cả các Kitô hữu đã chịu phép Rửa, thay vì chỉ giới hạn cho người Công Giáo đang ở trong tình trạng ân sủng.
Trong khi Giáo Hội Công Giáo Rôma quy định bắt buộc sống độc thân đối với các linh mục, chỉ dành việc truyền chức thánh cho nam giới và yêu cầu xưng tội riêng đối với các tội trọng; Giáo Hội Công Giáo Cổ áp dụng chế độ độc thân tự nguyện đối với hàng giáo sĩ, cho phép những người đã kết hôn được chịu chức linh mục và những người đã là linh mục được phép kết hôn, cho phép xưng tội riêng nhưng hình thức xá giải tập thể thường thấy trong các buổi cử hành phụng vụ cộng đồng và thực hiện việc truyền chức cho phụ nữ.
Phẩm phục linh mục và Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo Cổ
Các phẩm phục linh mục được sử dụng trong Giáo Hội Công Giáo Cổ về cơ bản có cấu trúc và ý nghĩa biểu tượng tương đồng với các phẩm phục trong Giáo Hội Công Giáo Rôma, bởi lẽ Công Giáo Cổ chia sẻ cùng những cội nguồn lịch sử và phụng vụ phương Tây với Công Giáo Rôma. Các Giáo Hội Công Giáo Cổ tách khỏi Rôma do những bất đồng về các vấn đề tín lý, đặc biệt là tín điều về ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng chứ không phải do những tranh cãi về phụng vụ, nên họ vẫn duy trì các loại phẩm phục Công Giáo phương Tây truyền thống thay vì chuyển sang sử dụng hệ thống phẩm phục khác.
Các giám mục và linh mục Công Giáo Cổ sử dụng mũ giám mục, áo choàng và thánh giá đeo ngực tương tự như hàng giáo sĩ Công Giáo phương Tây hoặc Anh giáo.
Những điểm tương đồng cốt lõi
Các phẩm phục tiêu chuẩn: Cả hai truyền thống đều sử dụng hệ thống phẩm phục Thánh Thể cơ bản giống nhau, bao gồm: áo chùng thâm, áo alba, dây thắt lưng, dây stola và áo lễ — cùng với khăn phủ vai hoặc các lớp áo lót khác tùy theo tập quán.
Màu sắc phụng vụ: Cả hai đều tuân theo hệ thống màu sắc phụng vụ truyền thống của phương Tây — trắng/vàng, đỏ, xanh lá cây, tím, đen và hồng — cho các mùa và các ngày lễ tương ứng.
Ý nghĩa biểu tượng: Dây stola biểu thị thẩm quyền linh mục và ách của Chúa Kitô; áo alba tượng trưng cho sự tinh sạch từ bí tích Rửa tội; còn áo lễ tượng trưng cho đức ái.
Tuy nhiên, trong khi Giáo Hội Công Giáo Rôma tuân theo các hướng dẫn hiện đại nghiêm ngặt từ "Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma" về kiểu dáng, thì các cộng đoàn Công Giáo Cổ lại hoạt động độc lập. Họ có quyền tự do lựa chọn phong cách mà không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý từ Vatican; do đó, kiểu dáng có thể rất đa dạng tùy theo sở thích của từng giáo xứ, từ phong cách cổ điển, phong cách xưa cũ cho đến các kiểu dáng hiện đại.
Trường hợp của Giám Mục ly giáo Giuse Vũ Minh Hùng
Giáo Hội Công Giáo Cổ đã len lỏi được vào Việt Nam, và một người Việt Nam đã được tấn phong Giám Mục trong Giáo Hội Công Giáo Cổ. Đó là trường hợp của Giám Mục Giuse Vũ Minh Hùng.
Giám Mục Giuse Vũ Minh Hùng sinh ngày 15 tháng 10, 1967 trong một gia đình Phật Giáo có 6 người con; được rửa tội ngày 23 Tháng Mười Hai, 1980 tại giáo xứ Phú Lâm, Xuân Lộc, Việt Nam. Ngày 29 Tháng Năm, 2010 đương sự được phong chức linh mục tại trụ sở Hội Xuân Bích tại Đà Nẵng bởi Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh, là Giám Mục Chính Tòa Đà Nẵng từ năm 2000 đến năm 2006, lúc đó đã nghỉ hưu.
Ngày 30 Tháng Ba, 2022, tại Phi Luật Tân, linh mục Giuse Vũ Minh Hùng được phong chức Đức Ông trong Giáo Hội Công Giáo Rôma Cổ Bắc Mỹ, gọi tắt là NAORCC.
Ngày 30 Tháng Chín, 2026, tại công nghị quốc tế của NAORCC ở Phi Luật Tân, đương sự được tấn phong Giám Mục trong Giáo Hội Công Giáo Rôma Cổ Bắc Mỹ.
Chúng ta cần biết rằng việc phong chức giám mục không được phép hoặc bất hợp pháp—chẳng hạn như trường hợp một linh mục hoặc giám mục Công Giáo được phong chức giám mục mà không được sự phê chuẩn của Đức Giáo Hoàng, hoặc được thực hiện trong một tôn giáo khác hay một nhóm ly khai—sẽ dẫn đến hình phạt vạ tuyệt thông tiền kết và bị cáo buộc tội ly giáo theo giáo luật.
Theo Điều 1387 của Bộ Giáo luật, cả vị giám mục thực hiện việc phong chức trái phép lẫn người nhận chức đều phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông ngay lập tức; không cần phải có bất cứ thông báo nào từ Tòa Thánh hay Đấng Bản Quyền sở tại; và thẩm quyền giải vạ này được dành riêng cho Tòa Thánh
Việc thách thức thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng để nhận hoặc ban chức giám mục thường dẫn đến tuyên bố ly giáo theo Điều 1364, khiến cá nhân đó bị tách rời khỏi sự hiệp thông trọn vẹn và không được phép lãnh nhận các bí tích.
Hình phạt này không thể được xóa bỏ bởi một linh mục giáo xứ hay linh mục giải tội thông thường; việc miễn giảm vạ tuyệt thông được dành riêng cho Tòa Thánh, trừ trường hợp có nguy cơ tử vong cận kề.
Trong thần học Công Giáo Rôma, bí tích tấn phong vẫn có hiệu lực (vì việc phong chức giám mục tạo ra một dấu ấn thiêng liêng không thể xóa nhòa), nghĩa là người đó về mặt kỹ thuật vẫn là một giám mục; tuy nhiên, việc thực thi chức vụ này là hoàn toàn bất hợp pháp và bị nghiêm cấm.
Như vậy, anh chị em phải chú ý rằng Giám Mục Giuse Vũ Minh Hùng là Giám Mục của một Giáo Hội Công Giáo Cổ không hiệp thông với Tòa Thánh; và theo Điều 1387 của Bộ Giáo luật Công Giáo, đương sự đang trong tình trạng bị vạ tuyệt thông.