5. 4 Quan điểm duy pháp lý về việc Tìm kiếm Ngoại lệ
Rõ ràng là hôn nhân đã trở thành trung tâm của các đề xuất về “tính sáng tạo” mục vụ, do sự phản đối văn hóa hiện hữu và do quan niệm cho rằng rất khó để sống lý tưởng Tin mừng gia đình trong một thế giới quá xa rời lý tưởng này. Chúng ta không nên ngạc nhiên khi cả một nền văn học đã xuất hiện liên tục tìm kiếm những ngoại lệ này. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã làm sáng tỏ khía cạnh này và tiết lộ nguồn gốc của nó:
Lòng thương xót, Công bằng, và Oikonoinia [kế hoạch Thiên Chúa] rất được Truyền thống Đông phương yêu mến, là một số khái niệm được viện dẫn trong các hoạt động diễn giải như vậy. Điều cần lưu ý ngay là khuôn khổ này không vượt qua Chủ nghĩa Duy nghiệm [positivism] mà nó lên án, mà chỉ giới hạn ở việc thay thế nó [Chủ nghĩa Duy nghiệm] bằng một chủ nghĩa khác, trong đó hoạt động diễn giải của con người đạt đến tầm mức chủ đạo trong việc thiết lập những gì mang tính pháp lý. Nó thiếu ý nghĩa của một luật khách quan mà người ta phải tìm kiếm, bởi vì nó vẫn phụ thuộc vào những cân nhắc được cho là thần học hoặc mục vụ, nhưng cuối cùng lại phải đối diện với nguy cơ tùy tiện. (44)
Bản thân Kasper đã lặp lại những lời cảnh báo này, (45) nhưng như thường lệ, một khi ngài nêu ra một nguyên tắc để chứng tỏ mình hiểu rõ nó, ngài lại tìm kiếm những lối thoát khác. Cách duy nhất để hiểu tại sao, trong bài diễn thuyết mà chúng ta đang phân tích, lại có quá nhiều tham chiếu đến các luận lý học riêng biệt và rất khác biệt như vậy là vì chúng có một mục đích duy nhất: tìm ra các ngoại lệ cho một chuẩn mực.
Không thể bỏ qua sự mơ hồ to lớn mà chủ đề này được thảo luận. Đức Hồng Y kết hợp sự phân định thiêng liêng mà ngài gán cho Thánh Alphonsô và Thánh Bênêđíctô (46) với đức tính khôn ngoan thận trọng của Thánh Tôma (47) và với sự phân biệt giữa lý trí lý thuyết và thực hành của ngài, và ngài còn đi xa hơn khi nói về tính ưu việt của sự khôn ngoan (48) và so sánh nó với oikonomia [kế sách của Thiên Chúa], lòng thương xót và epikeia [thể ý pháp *] (49). Việc nại đến mọi loại đức tính này được thực hiện theo một cách khá hỗn tạp và hỗn loạn, nhưng phải thừa nhận rằng, với một mục tiêu chính: biện minh cho một ngoại lệ đối với một luật bằng các thuật ngữ thần học, do đó gắn liền với chiến lược nghi ngờ mà chúng ta đã nói đến trong chương 2.
Rõ ràng, với sự pha trộn các tài liệu tham khảo khác nhau như vậy, không thể làm rõ bản chất của chúng chút nào. Chúng ta đã nói về lòng thương xót liên quan đến chân lý và công lý, và về giá trị của oikonomia như là sự mặc khải, và trong cả hai trường hợp, chúng ta đã tìm cách đưa ra một lời giải thích thần học vượt xa việc chỉ là một tiêu chuẩn để áp dụng một luật. Điều tương tự cũng xảy ra với sự thận trọng và khôn ngoan, như những đức tính tương ứng với việc rèn luyện lý trí rất xuất sắc. Tài liệu về hai chủ đề này rất phong phú, đặc biệt là liên quan đến Thánh Tôma. (50) Ngay cả một nghiên cứu tối thiểu về những đức tính này cũng phải dựa trên sự chấp nhận của Tiến sĩ Thiên thần về sự hiện hữu của những hành vi vốn dĩ xấu xa do đối tượng của chúng và do đó không cho phép có ngoại lệ. (51)
Tuy nhiên, câu hỏi chính là một trong những chủ đề được Đức Giáo Hoàng Benedict đề cập trong bài diễn văn của ngài, mà Đức Hồng Y, tuy nhiên, lại không xem xét đến. Việc ngài khăng khăng tìm kiếm ngoại lệ cho một luật là một cách xem xét luật theo chủ nghĩa pháp lý. Trong trường hợp này, luật được coi là chủ yếu mang tính hạn chế và không được hiểu là kim chỉ nam cho hành động của con người. Do đó, ngài theo đuổi một quan điểm duy danh về luật pháp như chủ yếu xuất phát từ một thẩm quyền (bonum quia iussum [tốt vì chính đáng]) chứ không phải từ chân lý về điều tốt đẹp của vạn vật (iussum quia bonum [chính đáng vì tốt])—đến mức ngài nghĩ rằng một sự thay đổi nhân từ từ phía các thẩm quyền có thể giải quyết được vấn đề. (52) Thay đổi chuẩn mực có thể có nghĩa làm cho vấn đề không còn hiện hữu nữa; việc đưa ra một ngoại lệ nào đó cho một luật bất khả phân ly quá nghiêm ngặt sẽ đồng nghĩa với việc bảo đảm rằng mọi điều vẫn nằm trong tay con người và cho phép chúng ta giải quyết vấn đề một cách nhân bản hơn.
Quan điểm duy luật pháp không thể bắt đầu từ hoạt động cụ thể của con người, vốn được thúc đẩy bởi một điều thiện chứ không phải bởi luật pháp. Ngược lại, sự thận trọng hướng dẫn hành động từ bên trong thông qua việc hoàn thành điều thiện hảo tuyệt vời của hành động: điều thiện hảo của con người. Do đó, nó trái ngược với chủ nghĩa duy luật pháp, vốn bắt đầu từ chuẩn mực như là nguyên tắc phán đoán và quan niệm hành động chỉ như một trường hợp cụ thể của chuẩn mực. Do đó, vấn đề là xác định xem trường hợp cụ thể đó có tương ứng với chuẩn mực này hay chuẩn mực khác hay không. Đây là hai cách hiểu hoàn toàn khác nhau về hành động: cách thứ nhất bắt đầu từ đức tính thận trọng, cách thứ hai từ việc áp dụng một chuẩn mực. Do đó, đây là một sự khác biệt cơ bản mà chúng ta có thể nhận thấy giữa Thánh Tôma Aquinô và Thánh Anphongsô Liguori về mặt nhận thức luân lý. Do đó, trước khi trích dẫn cả hai nguồn cho cùng một lập luận, Kasper nên làm rõ cách ngài hiểu từng nguồn, bởi vì khó có thể nghĩ ra một sự hòa giải nào lớn hơn trong một vấn đề đạo đức tế nhị như vậy.
Tất cả những điều này có một ứng dụng chuyên biệt trong trường hợp chấp nhận tình trạng sống của các cặp vợ chồng ly hôn và tái hôn. Theo một cách nghĩ, đây chỉ là vấn đề luật giáo hội, và quyền thay đổi nó thuộc về Đức Giáo Hoàng. (53) Đức Gioan Phaolô II đã dứt khoát bác bỏ cách giải thích này, khẳng định rằng đây là một vấn đề liên quan đến đức tin,. (54) Một lần nữa, như đã thấy rõ, chúng ta thấy mình đang đối diện với một vấn đề tín lý có trước, vốn không thể giải quyết đơn giản bằng cách nói đến một quy định hành chính toàn diện hơn.
5. 5. Một Cách Lý Luận Kỳ Dị
Trong nỗ lực lo lắng tìm kiếm một ngoại lệ khả dĩ nào đó, bài diễn văn của Đức Hồng Y Kasper cho thấy một sự bất nhất nào đó, qua những lời sau:
Đối với những trường hợp đặc thù như vậy, truyền thống Công Giáo nhất định không công nhận, giống như các giáo hội Chính thống giáo, nguyên tắc oikonomia, nhưng lại biết đến nguyên tắc tương tự epikeia, tức sự phân biệt các tinh thần, và đồng cái nhiên thuyết [equiprobailism] (Thánh Anphongsô Liguori). Truyền thống này thừa nhận sự hiểu biết của Thánh Tôma về đức tính cốt lõi nền tảng là sự khôn ngoan, áp dụng một chuẩn mực chung cho tình huống cụ thể (mà, theo nghĩa của Thánh Tôma Aquinô, không liên quan gì đến đạo đức hoàn cảnh [situation ethics]). (55)
Đây là ví dụ điển hình về việc trộn lẫn các tham chiếu có liên quan đến khoảng cách giữa chuẩn mực chung và trường hợp cụ thể. Đương nhiên, cách đặt câu hỏi rất khác nhau trong các trường hợp khác nhau và giữa các tác giả mà ngài đề cập đến. Thực ra, theo cách trong đó ngài trình bày sự khôn ngoan trong các tác phẩm của Thánh Tôma như thể nó chỉ là một sự áp dụng các quy tắc vào các trường hợp cụ thể, Đức Hồng Y đã phạm sai lầm khi không tính đến nhiều nghiên cứu đã được viết về chủ đề này trong bốn mươi năm qua, nhiều nghiên cứu trong số đó thuộc thế giới nói tiếng Đức. (56) Điều này gieo rắc nghi ngờ về việc liệu lập luận của ngài có thực sự dựa trên Thánh Tôma hay không, ngoài một số lời nói suông. Tuy nhiên, điều chúng ta quan tâm bây giờ là chỉ ra cấu trúc bên trong bài trình bày của ngài, một trình bầy ít nhất có vẻ nghịch lý. Trước hết, như đã thấy rõ trong văn bản, Kasper nhấn mạnh vào tính đặc thù của mỗi trường hợp, và để làm như vậy, ngài dùng đến ngôn ngữ của nhân vị thuyết: “Đúng hơn, người ta phải nghiêm túc xem xét tính độc nhất của mỗi con người và mỗi tình huống, và, từng trường hợp một, phải phân biệt và quyết định cẩn thận.” (57) Tuy nhiên, ngay trước đó, ngài đã phải thực hiện một bước đi khác đối lập với bước đi vừa được đề cập: để tránh rơi vào một kiểu giải nghi học có thể làm suy yếu hoàn toàn bài trình bày của mình, Đức Hồng Y cố gắng giải thích tính đặc thù này như một khó khăn trong việc mô tả các trường hợp một cách khách quan, (58) nói cách khác, như một câu hỏi liên quan đến giá trị của tính chủ quan bản vị.
Dường như khi làm như vậy, ngài có xu hướng mắc phải một sai lầm thường gặp ở một số hình thức thuyết nhân vị đạo đức, một hình thức, được hướng dẫn bởi giá trị đặc biệt của nhân vị, không tri nhận được tính khách quan cần thiết của điều thiện như một phương tiện trung gian để sự thông đạt liên chủ thể có thể hiện hữu. Đây là một lập luận đã được Maurice Nédoncelle đưa ra một cách sắc sảo:
“Nhưng một người, theo cách này hay cách khác, không trải qua trường phái khách quan, thì thật không thể chấp nhận được và đáng ghê tởm.” (59) Trên thực tế, chúng ta cần phải nghi ngờ một chủ nghĩa nhân vị không thỏa đáng (60) vốn không thể nhận ra tầm quan trọng của bản chất chung cho phép con người thông đạt với nhau và khám phá sự hiện hữu của một lợi ích chung bắt nguồn từ tình yêu mà tất cả con người được kêu gọi tiến tới. (61) Mặc dù Đức Hồng Y đã thảo luận trước đó về luật tự nhiên (62), nhưng kỳ lạ thay, ở đây, nơi lẽ ra phải liên quan, lại không hề đề cập đến nó. Mặc dù tác giả nói rõ rằng ngài có ý định tách mình ra khỏi đạo đức học hoàn cảnh, nhưng ngài không giải thích việc ngài dự định sẽ tiến hành như thế nào. Ngài không thể làm như vậy nếu không thừa nhận tính khách quan của công lý. Việc không coi trọng đúng mức các yếu tố khách quan, có thể xác định được về mặt pháp lý, khiến lập luận trở nên mơ hồ. Đây sẽ là một cách phủ nhận chính epikeia như một khả năng phân định, bởi vì tính khách quan được đề cập là phương tiện cho phép đức hạnh phán đoán một cách cụ thể. Không có tiêu chuẩn nào được đưa ra để phân biệt đề xuất của ngài với đạo đức học hoàn cảnh, chính vì trong trường hợp này, ngài không theo nguồn được ngài trích dẫn, tức là Thánh Tôma Aquinô. Và đây là lý do tại sao, trong bài phát biểu của ngài, khi cố gắng xác định các giải pháp mục vụ, Đức Hồng Y không thể không xác định chúng bằng cách viện dẫn các yếu tố khách quan để phân biệt các trường hợp khác nhau cần được giải quyết. Tuy nhiên, trong trường hợp này, ngài nói với chúng ta về "hai tình huống" khác nhau, cần phải áp dụng các tiêu chuẩn riêng biệt.(63) Bất chấp những dao động này, vốn mang âm hưởng phản pháp lý, cuối cùng, điều Kasper cố gắng thực hiện trong bài phát biểu của ngài là đạt được một chuẩn mực hành động chung thông qua một giải pháp mục vụ: "Các tiêu chuẩn ràng buộc cần phải hiện hữu và được công khai xác định. Tôi đã cố gắng làm điều đó trong bài thuyết giảng của tôi." (64) Dự án mang tính chuẩn mực rõ ràng này dường như hợp lý, vì nó phù hợp với quan điểm mà ngài đã bày tỏ với tư cách là một nhà thần học: "Cần có các quy tắc hoặc hướng dẫn về pháp lý và mục vụ, và những quy tắc này phải rõ ràng, không mơ hồ và mọi người đều có thể hiểu được." (65) Với những giả định này, thừa tác mục vụ nhất thiết được xem là nguồn gốc của các chuẩn mực khác, và cuối cùng, tác giả chủ trương rằng một sự thay đổi chuẩn mực có thể là giải pháp mục vụ được nhiều người mong đợi.
5.6. Tính ưu việt của Epikeia: Một lần nữa là một quan điểm duy pháp lý
Từ những gì vừa được trình bày, rõ ràng là mong muốn xác định luận lý học của viễn kiến mục vụ theo việc áp dụng cụ thể các chuẩn mực chung là một ví dụ rõ ràng về việc thiếu chính một viễn kiến như vậy. Đây là một mô hình bắt nguồn từ khoa giải nghi học tân kinh viện, vốn đã bỏ qua động lực thực sự của hành vi con người. (66) Đây là một vấn đề về quan điểm: quan điểm được áp dụng ở đây là quan điểm của một thẩm phán, người phải hạn chế hành động của người khác, (67) nhưng lại không tính đến sự kiện này là các hành động xuất phát từ một tình yêu mà chúng giả thiết phải phát biểu và trong đó con người được hiện thực hóa, như đã hiển nhiên trong một quan điểm duy nhân vị đích thực gắn liền với siêu hình học tình yêu. (68)
Nếu không phải tình yêu mà chuẩn mực là điểm khởi đầu cho cách tiếp cận đạo đức của một con người, thì luật đạo đức được xem một cách tiên thiên như một giới hạn, và việc tìm ra những ngoại lệ cho nó là một biểu hiện của tự do. Từ tầm nhìn hạn hẹp này nảy sinh các tiêu chuẩn luân lý về việc áp dụng ra sao các chuẩn mực trong tương quan với lương tâm và, do đó, những cuộc tranh luận bất tận giữa những người theo chủ nghĩa nghiêm ngặt và những người theo chủ nghĩa lỏng lẻo; đây là khuôn khổ diễn giải mà bài diễn văn của Kasper hướng đến. Đây là bối cảnh mà đồng cái nhiên thuyết của Thánh Alphonsô Liguori bắt nguồn, mà Đức Hồng Y đã đề cập đến. (69) Tuy nhiên, việc vượt qua căng thẳng này không đạt được bằng cách “tạo ra” một cảm quan mới, “được tâm linh hóa”, mà đúng hơn là thông qua sự hiểu biết sâu sắc hơn về lương tâm đạo đức đích thực, một điều hoàn toàn khác. Sự chăm sóc mục vụ đích thực của Giáo hội, xuất phát từ nhận thức về chân lý của tình yêu, rõ ràng là xa lạ với toàn bộ vấn đề này. Chúng ta không thể bỏ qua lời cảnh báo này, bởi vì, trong các phạm vi luân lý, chúng ta nhận thấy sự trỗi dậy nhất định của khoa giải nghi học, vốn luôn là hậu quả của chủ nghĩa duy luật. (70)
Đây là bối cảnh trong đó người ta nói về việc sử dụng epikeia nhiều hơn trong công tác mục vụ. Chúng ta biết rất rõ rằng mục đích của nỗ lực này là mở ra khả thể ngoại lệ cho một chuẩn mực chung dựa trên tính đặc thù của một trường hợp cụ thể, như chính Kasper đã trình bày: “epikeia, công lý trong các trường hợp cá nhân, tức là sự công chính cao hơn, theo Thánh Tôma Aquinô”. (71) Theo cách này, ngài lặp lại tuyên bố tuyệt đối của Thánh Tôma: “Do đó, epikeia [gần như] là một quy tắc cao hơn cho các hành động của con người.” (72) Do đó, nó dường như là một thực tại hứa hẹn một cách giải quyết cởi mở và công bằng cho trường hợp đang được đề cập: vượt ra ngoài việc xây dựng luật lệ. Lập luận của Tiến sĩ Thiên thần dường như có liên quan nhiều đến cách trình bày vấn đề trong bài phát biểu đang được xem xét: “Không thể đặt ra các quy tắc luật áp dụng cho mọi trường hợp riêng lẻ. Nhà lập pháp khi soạn thảo luật phải chú ý đến những gì thường xảy ra... Trong những trường hợp [không lường trước] và tương tự này, việc tuân thủ luật [một cách máy móc] là điều không tốt.” (73)
Công thức này dường như hứa hẹn những cách mới để giải quyết những khó khăn. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, thật đáng ngạc nhiên khi nhà thần học người Đức lại hướng đến đề xuất này mà không đưa ra lời giải thích, vì đây là một trong những điểm được thảo luận rộng rãi nhất trong cuốn sách bình luận về bức thư của Bộ Giáo lý Đức tin về việc Rước lễ cho người ly dị và tái hôn. (74) Những trang sách đó đã giải thích rất chi tiết về sai lầm liên quan đến nỗ lực duy trì tính hợp lệ của epikeia trong những trường hợp như thế này.
Lời giải thích được đề cập rất đơn giản: epikeia « là đức tính cụ thể của thẩm phán, người phải xét xử một vụ án cụ thể, chứ không phải của nhà lập pháp, người phải soạn thảo một chuẩn mực. Đây chính là nguồn gốc của công thức nổi tiếng nói rằng “[điều này] đưa ra phán quyết không phải dựa trên luật pháp, mà dựa trên một số tình huống cụ thể”; (75) do đó, “khi trường hợp được chứng minh rõ ràng thì không cần phải giải thích, mà là thi hành" (76). Ánh sáng chuyên biệt của epikeia giống với ánh sáng của công lý, chứ không phải một ánh sáng nào khác, nhưng nó khác với ánh sáng của công lý pháp lý, nói cách khác, khác với sự lên công thức cụ thể và chưa hoàn thiện của nhà lập pháp. Đây là lý do tại sao việc áp dụng epikeia vào một chuẩn mực cụ thể của luật tự nhiên lại là một vấn đề hóc búa đến vậy.
Điều đáng bàn ở đây là, vì Kasper, với rất ít chặt chẽ, đã lặp lại ý tưởng về epikeia của Thánh Tôma, nhưng sau đó cũng tham khảo Thánh Alphonsô Liguori về các ngoại lệ có thể có đối với một chuẩn mực. Điều này gây ra sự bối rối, vì đây là những quan điểm rất khác nhau, và do đó, sẽ rất hữu ích nếu biết được lập trường thực sự của Đức Hồng Y đối với những nguồn khác biệt như vậy. Việc lấy từ mỗi nguồn những tuyên bố ủng hộ tốt nhất cho đề xuất của riêng mình mà không có bất cứ giải thích nào thêm, là áp dụng một phương pháp luận thần học không phù hợp. Điều này đặc biệt đúng vì sự khác biệt trong các khái niệm của chúng về luật tự nhiên. Rõ ràng là ở Thánh Tôma, đức công lý không chỉ là sự diễn đạt của một quyết định pháp lý: “Epikeia tương ứng đúng nghĩa với công lý pháp lý". (77)
Do đó, theo quan điểm của ngài, không thể áp dụng nó trong lĩnh vực luật tự nhiên. Ngược lại, Thánh Alphonsô, người có quan điểm vụ ý chí hơn về luật tự nhiên, cũng phải phản ứng với khó khăn của lập trường Jansenist, vốn chủ trương rằng không thể có sự thiếu hiểu biết vô tội về bất cứ chuẩn mực nào của luật tự nhiên. (78) Đây là lý do tại sao, đối với vị thánh bổn mạng của các nhà đạo đức, epikeia cũng có thể được áp dụng trong lĩnh vực này, mặc dù sau đó ngài giải thích nó là sự biến đổi của một đối tượng đạo đức do sự thay đổi của các hoàn cảnh cụ thể. (79)
Do đó, việc nhấn mạnh, như đã được thực hiện trong trường hợp của lòng thương xót, về một "công lý cao hơn" dành riêng cho epikeia, là mơ hồ, trừ khi người ta, ngay lập tức, làm rõ lý do sâu xa cho sự cao hơn đó, vốn chính là giá trị chủ ý của công lý, không thể bị giản lược vào bất cứ công lý pháp lý nào. Theo nghĩa này, công bằng [equity] là một phần của công lý”. (80)
Vậy thì, đây chính là khuôn khổ phù hợp cho việc thực hành epikeia: không phải biến cảm quan cá nhân thành chuẩn mực, mà là hướng đến tư duy của nhà lập pháp hơn là chữ nghĩa của luật. Do đó, lý do cho ngoại lệ này là như sau: “Bản thân nhà lập pháp dự kiến rằng nếu có khó khăn trong việc áp dụng luật, thì không có nghĩa vụ nào cả”. (81) Tuy nhiên, điều này không thể áp dụng cho các lập luận liên quan đến luật tự nhiên, vốn không bao giờ phụ thuộc vào việc áp dụng một chuẩn mực do nhà lập pháp soạn thảo. (82)
Do đó, lý do cụ thể cho epikeia không liên quan gì đến việc dung túng một bất công, mà đúng hơn đến nền công lý vĩ đại nhất: “Ý nghĩa chặt chẽ của epikeia không được hiểu theo luận lý học ngoại lệ, khoan dung hay miễn trừ. Epikeia là nguyên tắc của một lựa chọn tuyệt vời và không có nghĩa là, và chưa bao giờ có nghĩa là, thông qua ngoại lệ, có thể cho phép một chút bất công về mặt đạo đức” (83)
Cách trong đó nên áp dụng epikeia rất đơn giản: cần phải ghi nhớ rõ ràng lợi ích pháp lý đang bị đe dọa. Nếu không có sự làm sáng tỏ này, phán quyết sẽ không còn chính đáng mà sẽ bị che khuất. Đây chính là tiêu chuẩn mà Đức Bênêđictô XVI đã đề cập trong bài phát biểu trước Tòa Thượng thẩm Rôma, tuy nhiên, Kasper đã không xem xét đến. Tiêu chuẩn này xuất hiện một cách hoàn toàn tự nhiên:
Theo cách này, một phương pháp giải thích pháp lý, vốn có thể mang tính pháp lý đích thực, có thể được thực hiện, theo nghĩa, bằng cách đặt mình vào sự đồng điệu với chính ý nghĩa của luật, câu hỏi then chốt có thể được đặt ra là điều gì là công bằng trong mỗi trường hợp. Về mặt này, cần lưu ý rằng để nắm bắt được ý nghĩa thực sự của luật, người ta phải luôn nắm bắt [tức là nhìn vào và thấu hiểu] chính thực tại đang được điều chỉnh, và điều này không chỉ xảy ra khi luật chủ yếu mang tính tuyên bố về Luật Thiên Chúa, mà còn xảy ra khi luật tự nhiên đưa ra các quy tắc của con người. Trên thực tế, những điều này cũng cần được giải thích dưới ánh sáng của thực tại đang được điều chỉnh, vốn luôn chứa đựng một hạt nhân của Luật Tự nhiên và Luật Thiên Chúa Tích cực, mà mọi chuẩn mực phải hài hòa với nhau để trở nên hợp lý và thực sự mang tính pháp lý. (84)
Ánh sáng mà điều này mang lại để soi sáng trường hợp các cặp vợ chồng ly hôn và tái hôn sống chung là rõ ràng. Luật về tính vĩnh viễn của hôn nhân và sự bất chính khi sống trái ngược với nó hóa ra, trong trường hợp này, khá hiển nhiên trong sự thật của việc nó đòi hỏi công lý. Trong trường hợp của chúng ta, câu hỏi trước nhất cần được làm rõ là liệu người đó có hành động trái với dây bí tích hiện hữu hay không. Đây không phải là điều dễ dàng xác định trong các trường hợp cụ thể, nhưng đây chính là loại phân định cần được thực hiện—không phải loại nhằm mục đích hiểu liệu người ta có cần phải thương xót hay không (một khía cạnh không liên quan ở bình diện này). Một lần nữa, chúng ta thấy mình kết luận rằng không thể xem xét một ngoại lệ đối với luật này như thể nó chỉ là một vấn đề mục vụ, mà đúng hơn, cần phải dựa phán đoán của người ta trên nhận thức tín lý về giá trị đích thực của một hành vi. Đây chính là ý nghĩa đích thực và đúng đắn của lời tuyên bố sáng suốt của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “Chiều kích pháp lý và chiều kích mục vụ trong thừa tác vụ của Giáo hội không đối lập nhau.” (85) Nội dung chuyên biệt của chúng trong trường hợp này có thể được diễn tả qua lời của Đức Gioan Phaolô II: “Trong Giáo hội, công lý đích thực, được khơi dậy bởi đức bác ái và được điều hòa bởi đức công bằng, luôn xứng đáng với tính từ miêu tả là mục vụ. Không thể thực thi đức ái mục vụ mà không lưu ý, trước hết, đến công lý mục vụ.” (86)
Còn 1 kỳ