1. Các tu sĩ theo phái Sedevacantist người Scotland đã thực hiện lễ tấn phong giám mục bất hợp pháp bất chấp những cảnh báo về nguy cơ ly giáo.

Một nhóm tu sĩ theo phái sedevacantist ở Scotland đã tổ chức một lễ tấn phong "giám mục" bất hợp pháp vào ngày 25 tháng 7, bất chấp những cảnh báo lặp đi lặp lại rằng làm như vậy sẽ cấu thành hành vi ly giáo và đoạn tuyệt với Giáo Hội Công Giáo.

Phái Sedevacantist là gì? Thưa phái Sedevacantist còn gọi là phái trống tòa là một nhóm người theo chủ nghĩa truyền thống Công Giáo tin rằng Tòa Thánh Rôma đang trống ngôi và các giáo hoàng từ sau Công đồng Vatican II (1962–1965) không phải là giáo hoàng đích thực. Thuật ngữ này bắt nguồn từ cụm từ tiếng Latinh sede vacante, có nghĩa là "trống tòa". Cụ thể, phái này tin rằng Đức Giáo Hoàng Piô thứ 12 là vị Giáo Hoàng sau cùng. Sau ngài, Giáo Hội rơi vào tình trạng trống ngôi Giáo Hoàng.

Các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế xuyên dãy Alps, hay còn gọi là Con Trai của Đấng Cứu Chuộc Chí Thánh, đã phát trực tiếp buổi lễ giả mạo này từ tu viện của họ trên đảo Papa Stronsay, một hòn đảo thuộc quần đảo Orkney ở Scotland.

Giám mục Hugh Gilbert của Aberdeen đã cảnh báo trong một thư mục vụ ngày 18 tháng 7 rằng việc tấn phong Giám Mục sẽ cấu thành một "hành động ly giáo" và "đưa những người tham gia vào đó ra khỏi Giáo Hội Công Giáo".

Buổi lễ được cử hành bởi các Giám mục Rodrigo Ribeiro da Silva, Fernando Altamira và Pierre Roy. Đức Cha Gilbert gọi ba vị này là "các giám mục không được ủy quyền đến từ Mỹ Châu". Trong lễ tấn phong giả mạo này Cha Michael Mary, một linh mục thuộc dòng tu và là bề trên của dòng, đã được tấn phong Giám Mục

Đầu năm 2026, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế vùng Alps đã công khai phủ nhận tính hợp pháp của Đức Giáo Hoàng hiện đại. Vào tháng 5, họ đã đưa ra một tuyên bố theo phái sedevacantist, khẳng định rằng họ sẽ "không công nhận về mặt pháp lý" Đức Giáo Hoàng Lêô XIV và các Đức Giáo Hoàng khác đã "rời bỏ" đức tin trong những thập niên kể từ Công đồng Vatican II.

Ba vị giám mục thực hiện nghi thức tấn phong trên danh nghĩa cũng được tường trình theo phái sedevacantist.

Trước đó, vào tháng Sáu, Giám mục Gilbert đã cảnh báo về buổi lễ thánh hiến, lưu ý rằng sự kiện này "sẽ được cử hành mà không có sự cho phép của Đức Giáo Hoàng" và sẽ là "bất hợp pháp và là một hành vi bất tuân nghiêm trọng".

Ngay cả trước một số tranh cãi vào năm 2026, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế vùng Alps đã vướng vào các tranh chấp liên quan đến vi phạm giáo luật.

Tháng 8 năm 2025, Vatican cho phép Giáo phận Christchurch cấm dòng tu này thực hiện các hoạt động mục vụ công khai trong giáo phận đó giữa những cáo buộc về việc trừ tà trái phép.

Đức Cha Michael Gielen của Christchurch đã nói vào tháng 7 năm 2024 rằng cộng đồng này đã được Giám mục người Úc Robert McGuckin viếng thăm.

Đức Cha Michael Gielen đã tước bỏ quyền hành mục vụ của các thành viên theo khuyến nghị của Vatican và cũng yêu cầu nhóm này "rời khỏi Giáo phận Christchurch".


Source:EWTN News



2. Satan đội lốt linh mục yêu sách Giáo Hội phải cho phép có các ‘linh mục đồng tính’

Tiếp tục hoạt động vận động công khai của mình về các vấn đề LGBT, linh mục James Martin Dòng Tên lập luận rằng Giáo Hội Công Giáo nên chính thức chấp nhận các linh mục "đồng tính".

Trong một bài luận mới được tổ chức ủng hộ LGBT Outreach của ông công bố, linh mục James Martin đã trình bày lập luận của mình về lý do tại sao Giáo hội nên cho phép người đồng tính được gia nhập hàng giáo sĩ. Ông lưu ý rằng ông chỉ ủng hộ việc cho phép nam giới sống độc thân được gia nhập, nhưng sau khi thiết lập điều đó làm nền tảng cho lập luận của mình, vị linh mục Dòng Tên nổi tiếng này kêu gọi Giáo hội thay đổi các quy tắc liên quan đến việc tuyển sinh vào chủng viện và phong chức linh mục.

"Để làm rõ, khi chúng ta nói về việc những người đàn ông đồng tính được phong chức linh mục hoặc được chấp nhận vào các dòng tu, chúng ta đang giả định một cuộc sống độc thân (là lời hứa mà các linh mục đưa ra khi thụ phong) và khiết tịnh (lời thề mà các thành viên của các dòng tu đưa ra)."

Bài luận của ông được viết dựa trên một nghiên cứu năm 2024 do Viện McGrath về Đời sống Giáo hội thực hiện. Nhưng thực ra, các tác giả của nghiên cứu này đã lập luận chống lại việc nhận nam giới có xu hướng đồng tính vào chủng viện chứ không phải ủng hộ như linh mục James Martin nói.

Nghiên cứu này phân biệt giữa sự hấp dẫn đồng giới "ăn sâu" và "tạm thời", giống như Tòa Thánh đã làm trong văn kiện năm 2005 về vấn đề này. Hai tác giả của nghiên cứu thuộc Viện McGrath đã bảo vệ lập trường của Giáo hội trong việc phân biệt giữa hai hình thức hấp dẫn đồng giới, trong đó hình thức thứ nhất cấm nam giới vào chủng viện, còn hình thức thứ hai không hoàn toàn đóng cánh cửa, mặc dù nam giới phải thoát khỏi sự hấp dẫn đó trong nhiều năm trước khi được thụ phong linh mục. Hai tác giả nói rõ rằng những kẻ mà tư duy không vượt qua nổi hạ bộ của mình thì có gì để dạy bảo người khác.

Nhưng đối với Martin, ngôn ngữ của Giáo Hội là sai lầm vì ông coi sự hấp dẫn đồng giới là một phần cốt lõi trong bản sắc của mỗi cá nhân. "Vượt qua cám dỗ hay dục vọng là một chuyện; vượt qua toàn bộ bản năng tình dục của mình lại là chuyện khác," ông viết.

Một vấn đề then chốt trong lập luận của ông, và của nhiều nhà hoạt động LGBT, là việc sử dụng từ "đồng tính luyến ái" để chỉ một cá nhân có sự hấp dẫn đồng giới, gọi tắt là SSA. Giáo hội xem SSA là một cám dỗ hoặc thử thách mà người đàn ông đó phải chống lại, trong khi các nhà hoạt động LGBT lại xem SSA không chỉ là sự hấp dẫn đồng giới nhất thời mà còn là một bản sắc, một phần tự nhiên của mỗi người. Đối với Martin và những người khác, một người đàn ông "đồng tính luyến ái" không chỉ đơn thuần là một người đàn ông có khuynh hướng hấp dẫn đồng giới, mà là người có sự hấp dẫn đồng giới như một phần tự nhiên trong bản sắc của mình.

Chính bằng cách này mà Martin biện hộ cho việc cho phép các linh mục "đồng tính" trở thành một phần của hàng giáo sĩ trong Giáo hội, và ông mô tả ngôn ngữ của các nghiên cứu như của phong trào Courage về việc "vượt qua" sự hấp dẫn đồng giới là "đáng lo ngại". Ông tin tưởng rằng sự hấp dẫn đồng giới không phải là một sự thu hút hay cám dỗ cần phải chống lại, mà là một phần tự nhiên trong bản sắc của người đàn ông do Chúa tạo ra, và nếu như vậy thì tại sao Giáo hội lại không phong chức cho những người đàn ông "đồng tính" giống như cách Giáo hội phong chức cho những người đàn ông dị tính?

Vấn đề ở đây là điều này mâu thuẫn trực tiếp với giáo huấn của Giáo hội. Tòa Thánh coi xu hướng tình dục đồng giới, gọi tắt là SSA là một "tình trạng". Mặc dù tự bản thân nó không phải là tội lỗi, nhưng hành vi đồng tính luyến ái thực sự là tội lỗi, như Vatican đã nêu rõ nhiều lần, kể cả trong văn bản năm 1986 về vấn đề này: "Mặc dù khuynh hướng đặc biệt của người đồng tính luyến ái không phải là tội lỗi, nhưng đó là một xu hướng ít nhiều mạnh mẽ hướng tới một điều ác về mặt đạo đức nội tại; và do đó, bản thân khuynh hướng đó phải được xem là một rối loạn khách quan." Vì lẽ đó, Giáo hội tuyên bố rằng Giáo hội "không thể nhận vào chủng viện hoặc chức thánh những người thực hành đồng tính luyến ái, có khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu sắc hoặc ủng hộ ‘văn hóa đồng tính’".

Điều mà Martin đã tiết lộ trong bài luận của mình là ông hoàn toàn chống lại giáo lý của Giáo Hội Công Giáo về đồng tính luyến ái. Đối với ông, đó không phải là một "rối loạn khách quan", mà là một phần tự nhiên của tạo hóa, của sự tồn tại của con người.

Ông cho rằng mình có những bằng chứng giai thoại mà ông cho là ủng hộ quan điểm của mình, nhờ vào việc ngày càng nhiều nam giới mắc chứng đồng tính luyến ái vào các chủng viện trong những thập niên qua. Trong một cuộc gặp riêng với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Martin được Đức Giáo Hoàng cho biết rằng ngài biết "nhiều chủng sinh và linh mục ‘tốt, thánh thiện và độc thân’ là người đồng tính".

"Trong gần 40 năm làm tu sĩ Dòng Tên, tôi đã biết hàng chục linh mục đồng tính sống độc thân, những người đã sống cuộc đời mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô gọi là ‘tốt lành, thánh thiện và độc thân’, noi theo thông điệp về tình yêu thương và lòng thương xót của Chúa Giêsu", Martin nói thêm.

Vị linh mục dòng Tên tiết lộ rằng "vài năm trước", ông đã hỏi một chủng sinh người Mỹ đang học ở Rôma rằng có bao nhiêu bạn cùng lớp "là người đồng tính", và chàng trai trẻ trả lời: "Một nửa trong số họ". Nhưng không ai trong số họ dám tiết lộ sự thật này với cha xứ hay cha linh hướng vì sợ bị đuổi học.

"Lý lẽ thuyết phục nhất cho việc mở ra việc phong chức linh mục cho người đồng tính nam là sự hiện diện của nhiều linh mục đồng tính nam thánh thiện và khỏe mạnh, sống độc thân," Martin lập luận. Ông nói tiếp: "Câu hỏi thực sự là: Một người đàn ông có thể noi gương Chúa Giêsu Kitô trong tình yêu thương, lòng thương xót và sự cảm thông của Ngài trong khi sống độc thân trung thành không? Câu trả lời của các tác giả các nghiên cứu dành cho những người đồng tính nam cảm thấy được ơn gọi làm linh mục dường như là không. Với sự tôn trọng đối với các nghiên cứu và kinh nghiệm của họ, câu trả lời của tôi, dựa trên kinh nghiệm của tôi với nhiều linh mục đồng tính nam thánh thiện và khỏe mạnh trong 40 năm qua, là có." Tuy nhiên, Giáo hội lại không đồng ý. Năm 2005, Bộ Giáo dục Công Giáo đã viết về những người đàn ông có "xu hướng đồng tính luyến ái sâu sắc": "Những người như vậy, trên thực tế, thấy mình ở trong tình huống cản trở nghiêm trọng khả năng thiết lập mối quan hệ đúng đắn với nam giới và nữ giới. Không được phép bỏ qua những hậu quả tiêu cực có thể phát sinh từ việc phong chức linh mục cho những người có xu hướng đồng tính luyến ái sâu sắc." Do giáo huấn của Giáo hội cho rằng đồng tính luyến ái là "một rối loạn khách quan", Bộ này lưu ý rằng chỉ riêng việc sống độc thân thôi là chưa đủ để được thụ phong linh mục. Thay vào đó, một linh mục tương lai phải có khả năng thiết lập mối quan hệ "đúng đắn" với giáo dân của mình, điều này đòi hỏi đương sự không được có xu hướng đồng tính luyến ái.

Năm 2005, Vatican viết: "Nếu một ứng viên thực hành đồng tính luyến ái hoặc có những khuynh hướng đồng tính luyến ái sâu sắc, thì cha hướng dẫn tâm linh cũng như cha giải tội của người đó có nhiệm vụ khuyên can người đó về mặt lương tâm không nên tiếp tục tiến tới thụ phong linh mục."

Theo quy định của Dòng, những người đàn ông chỉ có "vấn đề tạm thời" về "xu hướng đồng tính luyến ái" có thể được nhận vào chủng viện, nhưng những xu hướng này phải "được khắc phục rõ ràng ít nhất ba năm trước khi thụ phong phó tế".

Tên của Martin đồng nghĩa với việc ủng hộ quyền LGBT trong Giáo Hội Công Giáo, ông đã đạt được vị thế nổi bật dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và thực tế, ít nhất một phần là nhờ vị Đức Giáo Hoàng người Á Căn Đình, người đã tiếp đón Martin trong buổi tiếp kiến và trực tiếp ủng hộ các hoạt động LGBT của vị linh mục này.

Ông đã trở thành một trong những nhân vật gây chia rẽ nhất trong Giáo hội, đặc biệt là trong cộng đồng Công Giáo Mỹ. Một số hành động gây tranh cãi hơn của ông, ngoài việc ủng hộ những người đồng tính luyến ái, bao gồm việc mô tả quan niệm về Thiên Chúa là nam giới là "có hại", thúc đẩy hôn nhân dân sự đồng giới và cổ vũ hình ảnh Chúa Kitô là người đồng tính.

Vị linh mục này từng là tâm điểm tranh cãi trong các cuộc họp của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ. Đức Hồng Y Raymond Burke trước đây cho rằng các thuyết của Martin "không phù hợp với giáo huấn của Giáo hội về đồng tính luyến ái", và cựu Tổng Giám Mục Charles Chaput của Philadelphia nói rằng Martin không phát ngôn "với thẩm quyền thay mặt Giáo hội". Do "sự nhầm lẫn gây ra bởi những tuyên bố và hoạt động của ông ta liên quan đến các vấn đề đồng tính, gọi tắt là LGBT", Chaput còn kêu gọi "các tín hữu nên thận trọng về một số tuyên bố của ông".

Đức Ông Stephen Rossetti, Nhà Trừ Tà của giáo phận Syracuse, phó giáo sư nghiên cứu tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ, không nêu rõ tên của linh mục Martin, đã cảnh cáo anh chị em giáo dân rằng Satan cũng có thể đội lốt linh mục yêu sách Giáo Hội phải phong chức cho những người đồng tính.


Source:Catholic Herald



3. Tìm hiểu tiến trình tuyên thánh. Trường hợp của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

Đức Ông Robert Sarno, chuyên gia phục vụ trong Bộ Tuyên Thánh suốt 38 năm, sau khi đã là linh mục của giáo phận Brooklyn Hoa Kỳ, có bài viết nhan đề "Saints", nghĩa là "Các Thánh" được đăng trên web site của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ.

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Trong năm thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, quá trình công nhận một vị thánh dựa trên sự tung hô của công chúng, nghĩa là dựa trên nguyên tắc vox populi, vox Dei - tiếng nói của người dân, tiếng nói của Chúa. Không có quá trình chính thức nào giống với các tiêu chuẩn chúng ta thấy ngày nay. Bắt đầu từ thế kỷ thứ sáu và kéo dài đến thế kỷ thứ mười hai, cần có sự can thiệp của giám mục địa phương trước khi một ai đó có thể được tuyên thánh. Sự can thiệp của Đức Giám Mục bản quyền thường bắt đầu bằng yêu cầu của cộng đồng địa phương xin Đức Giám Mục địa phương công nhận một ai đó là thánh. Sau khi nghiên cứu yêu cầu và tiểu sử viết tay, nếu thấy thuận lợi, Đức Giám Mục thường sẽ ban hành sắc lệnh, hợp pháp hóa nghi lễ phụng vụ và do đó tuyên thánh cho người đó.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ mười, án tuyên thánh được tiến hành theo các bước như sau: danh tiếng của người đó lan rộng, có yêu cầu từ người dân xin giám mục địa phương tuyên bố người đó là thánh, và tiểu sử được viết ra để giám mục xem xét. Tuy nhiên, hiện nay, giám mục sẽ thu thập lời khai của những người biết người đó và những người đã chứng kiến phép lạ, và ngài sẽ cung cấp tóm tắt về vụ việc cho Đức Giáo Hoàng để vị mục tử toàn thể Hội Thánh chấp thuận. Sau đó, Đức Giáo Hoàng xem xét nguyên nhân, và nếu chấp thuận, ngài sẽ ban hành sắc lệnh tuyên bố người đó là thánh. Trường hợp đầu tiên được ghi chép về án tuyên thánh do một Giáo Hoàng chuẩn y là khi Đức Giáo Hoàng Gioan 15 vào ngày 31 Tháng Giêng năm 993 tuyên thánh cho Thánh Ulric. Khi Đức Giáo Hoàng Sixtô Đệ Ngũ tổ chức lại Giáo triều Rôma vào năm 1588, ngài đã thành lập Bộ Nghi lễ Thánh. Một trong những chức năng của bộ này là hỗ trợ Đức Giáo Hoàng xem xét các án tuyên thánh. Ngoại trừ một số cập nhật cho phù hợp với giáo luật, từ năm 1588, quá trình tuyên thánh vẫn như vậy cho đến năm 1917 khi Bộ Giáo luật phổ quát được ban hành.

Bộ luật năm 1917 bao gồm 145 điều luật (từ số 1999 đến số 2144) về án tuyên thánh, và yêu cầu phải tiến hành một quá trình giám mục và một quá trình tông tòa. Tiến trình giám mục bao gồm giám mục địa phương xác minh danh tiếng của người đó, bảo đảm rằng có tiểu sử rõ ràng, thu thập lời khai của nhân chứng và các tác phẩm do người đó viết ra. Tất cả những điều này sau đó được chuyển đến Bộ Nghi lễ Thánh. Tiến trình tông tòa bao gồm xem xét các bằng chứng được nộp, thu thập thêm bằng chứng, nghiên cứu án tuyên thánh, điều tra bất kỳ phép lạ nào được cho là đã xảy ra và cuối cùng chuyển án tuyên thánh lên Đức Giáo Hoàng để ngài chấp thuận.

Tiến trình này vẫn có hiệu lực cho đến năm 1983 với việc ban hành Bộ Giáo luật năm 1983 và các chuẩn mực mới cho các nguyên nhân tuyên thánh: Divinus Perfectionis Magister, Normae Servandae in Inquisitionibus ab Episcopis Faciendis in Causis Sanctorum và Sanctorum Mater, hay 2007. Tiến trình sửa đổi vào năm 1983 này cho các án tuyên thánh vẫn có hiệu lực cho đến nay và được trình bày chi tiết bên dưới.

Không có số lượng chính xác những người đã được tuyên thánh kể từ những thế kỷ đầu tiên. Tuy nhiên, vào năm 1988, để đánh dấu 400 năm thành lập, Bộ Tuyên Thánh đã xuất bản "Index ac Status Causarum" đầu tiên. Cuốn sách này và các phần bổ sung sau đó, được viết hoàn toàn bằng tiếng Latin, được coi là chỉ mục chính thức của tất cả các vụ án đã được trình lên Bộ kể từ khi thành lập.

Tiến trình tuyên thánh từ năm 1983 bao gồm các bước sau:

Giai đoạn I – Khảo sát cuộc đời của một ứng viên tuyên thánh ở cấp Giáo phận (hoặc Giáo phận chính thống Đông phương)

Phải mất năm năm kể từ thời điểm ứng viên qua đời trước khi án tuyên thánh có thể bắt đầu. Điều này là để cho phép cân bằng và khách quan hơn trong việc đánh giá trường hợp và để cho cảm xúc của thời điểm người ấy qua đời tan biến. Đức Giáo Hoàng có thể miễn trừ thời gian chờ đợi này.

Giám mục của giáo phận nơi người đó qua đời có trách nhiệm bắt đầu cuộc điều tra. Người thỉnh cầu (có thể là giáo phận, giám mục, dòng tu hoặc hiệp hội tín hữu) yêu cầu giám mục thông qua một người được gọi là Postulator hay cáo thỉnh viên, là người đề nghị mở cuộc điều tra.

Sau đó, giám mục bắt đầu một loạt các cuộc tham khảo ý kiến với hội đồng giám mục, các tín hữu trong giáo phận của mình và Tòa thánh. Sau khi các cuộc tham khảo ý kiến này hoàn tất và ngài đã nhận được ý kiến "nihil obstat", nghĩa là "không có gì ngăn trở" từ Tòa thánh, ngài sẽ thành lập một tòa án cấp giáo phận cho án tuyên thánh. Tòa án sẽ điều tra về sự tử đạo hoặc cách ứng viên sống một cuộc sống với các nhân đức anh hùng, tức là các nhân đức đối thần về đức tin, đức cậy và đức mến, và các nhân đức cốt yếu về sự khôn ngoan, công bằng, tiết độ và lòng dũng cảm, và những nhân đức khác cụ thể đối với tình trạng sống của ứng viên. Các nhân chứng sẽ được triệu tập và các tài liệu do ứng viên viết và các tài liệu về ứng viên phải được thu thập và xem xét.

Giai đoạn II: Bộ Tuyên thánh

Sau khi cuộc điều tra của giáo phận hoàn tất, tài liệu sẽ được gửi đến Bộ Tuyên thánh. Ứng viên có thể được gọi là "Servus Dei" hay vị "Tôi Tớ Chúa".

Người thỉnh nguyện cho giai đoạn này, cư trú tại Rôma, dưới sự chỉ đạo của một thành viên trong đội ngũ nhân viên của Bộ. Người thỉnh nguyện sống ở Rôma này cũng được gọi là Postulator hay cáo thỉnh viên ở cấp Tòa Thánh, chuẩn bị một 'Positio', nghĩa là một bản tóm tắt bằng chứng tài liệu từ giai đoạn giáo phận để chứng minh việc thực hành đức hạnh anh hùng hoặc sự tử đạo.

'Positio' trải qua một cuộc kiểm tra của chín nhà thần học bỏ phiếu về việc ứng viên có sống một cuộc sống anh hùng hay chịu tử đạo hay không. Nếu phần lớn các nhà thần học ủng hộ, thì án tuyên thánh được chuyển lên để các Hồng Y và giám mục là thành viên của Hội đồng thẩm định. Nếu phán quyết của các ngài là thuận lợi, thì vị trưởng Hội đồng sẽ trình bày kết quả của toàn bộ quá trình của án tuyên thánh lên Đức Giáo Hoàng, là người sẽ chấp thuận và ủy quyền cho Hội đồng soạn thảo một sắc lệnh tuyên bố một người là Venerabilis – hay Bậc đáng kính nếu họ đã sống một cuộc sống đức hạnh.

Trường hợp của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17 tháng 4 năm 1928, tại Huế, thuộc dòng họ có truyền thống Công Giáo lâu đời. Ngài qua đời ngày 16 tháng 9 năm 2002 và được toàn thế giới biết đến là một bậc chân tu cao cấp của Giáo Hội Công Giáo Rôma, người Việt Nam. Ngài nổi tiếng trên toàn thế giới như một "chứng nhân của hy vọng", để lại dấu ấn sâu sắc qua đức tin kiên định, tinh thần tha thứ và các tác phẩm linh đạo giá trị.

Ngài từng giữ chức Giám mục Giáo phận Nha Trang từ 1967 đến 1975 và sau đó là Tổng Giám mục Phó Tổng giáo phận Sài Gòn.

Sau năm 1975, ngài trải qua 13 năm kiên giam, trong đó có 9 năm biệt giam.

Trong thời gian lao tù, ngài âm thầm cử hành Thánh lễ trên lòng bàn tay với vài giọt rượu và mẩu bánh mì vụn do gia đình gửi vào.

Năm 1998, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.

Ngài được vinh thăng Hồng Y vào năm 2001.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là cuốn Đường Hy Vọng (viết trên những mảnh giấy nhỏ trong tù) và tập sách Toát yếu Giáo lý Xã hội của Giáo hội do ngài chỉ đạo biên soạn với tư cách là Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.

Ngày 4 Tháng Năm, 2017, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên ngài là Đấng Đáng Kính.

Giai đoạn III – Phong chân phước

Đối với việc phong chân phước cho một vị đáng kính, cần phải có một phép lạ được cho là do sự chuyển cầu của ngài, được xác minh sau khi ngài qua đời. Phép lạ cần thiết phải được chứng minh thông qua cuộc điều tra giáo luật thích hợp, theo một thủ tục tương tự như đối với các nhân đức anh hùng. Cuộc điều tra này cũng được kết thúc bằng sắc lệnh thích hợp. Sau khi sắc lệnh về phép lạ được công bố, Đức Giáo Hoàng sẽ ban hành lệnh phong chân phước, tức là cho phép việc tôn kính công khai có giới hạn - thường chỉ trong phạm vi quốc gia, giáo phận, vùng hoặc cộng đồng tôn giáo nơi vị chân phước đã sống. Với quyết định này, ứng viên sẽ nhận được danh hiệu Chân phước hay Á Thánh.

Đối với một vị tử đạo, không cần phép lạ. Do đó, khi Đức Giáo Hoàng chấp thuận positio tuyên bố rằng người đó đã tử đạo vì đức tin, thì danh hiệu Chân phước sẽ được ban cho vị tử đạo tại thời điểm đó.

Trong trường hợp của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, giờ đây, cần có 1 phép lạ do lời cầu bầu của ngài để được tuyên Chân Phước; và sau đó cần có một phép lạ thứ hai xảy ra sau giai đoạn Chân Phước để được tuyên thánh.

Vì thế, tin cho rằng tin cho rằng Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận sắp được tuyên thánh là tin giả, được những kẻ dốt nát tung ra. Anh chị em hãy cẩn thận.

Giai đoạn IV – Tuyên thánh

Để tuyên thánh, cần có một phép lạ khác cho cả các vị chân phước tử đạo và các vị chân phước đã sống một cuộc đời đức hạnh. Phép lạ này được cho là nhờ sự chuyển cầu của vị chân phước và đã xảy ra sau khi được phong chân phước.

Các phương pháp để khẳng định phép lạ cũng giống như các phương pháp được áp dụng để phong chân phước. Việc tuyên thánh cho phép Giáo hội hoàn vũ tôn kính vị thánh một cách công khai. Với việc tuyên thánh, vị chân phước sẽ có được danh hiệu là Sanctus hay là Thánh.

Đức Ông Robert Sarno

Bộ Tuyên thánh

Thành phố Vatican



4. Đức Giáo Hoàng lặp lại lời kêu gọi hòa bình ở Trung Đông.

Hôm Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhắc lại lời kêu gọi hòa bình ở Trung Đông, sau một tuần chứng kiến bạo lực chết người của những người định cư Israel ở Bờ Tây, các cuộc tấn công quân sự của Israel vào Gaza và các hoạt động tăng cường của Mỹ chống lại Iran.

Lời kêu gọi mới của Đức Giáo Hoàng được đưa ra trong bài phát biểu sau buổi cầu nguyện Angelus hôm Chúa Nhật, 26 Tháng Bẩy, tại dinh thự mùa hè của Đức Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo.

Một loạt vụ bạo lực chết người do người định cư Israel gây ra ở khu Bờ Tây bị tạm chiếm đã dẫn đến cuộc đàn áp của lực lượng Israel vào cuối tuần này, khiến hàng chục người Palestine bị bắt giữ, trong khi các cuộc tấn công quân sự của Israel nhằm vào các mục tiêu ở Gaza vẫn tiếp diễn.

Cuối tuần này, các cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào các mục tiêu ở Iran đã tạm dừng, sau gần hai tuần liên tục diễn ra vào ban đêm gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng – và cũng được tường trình đã làm dấy lên một số lo ngại về chiến lược và chính trị từ các nhà lãnh đạo cao cấp phía Mỹ.

Bờ Tây và Gaza

Quân đội Israel cho biết họ đã bắt giữ hơn 70 nghi phạm trên khắp khu Bờ Tây bị tạm chiếm từ thứ Sáu đến thứ Bảy, sau khi binh lính được triển khai khắp lãnh thổ này sau vụ bạo lực của người định cư khiến bốn dân làng Palestine và hai binh sĩ Israel thiệt mạng.

Các báo cáo đêm qua cho biết lực lượng Israel đã bắt giữ tới 40 người Palestine tại thành phố Nablus.

Hôm Chúa Nhật, Ai Cập bày tỏ lo ngại về cuộc đàn áp của Israel, viện dẫn "các hành vi bạo lực và đe dọa cũng như đốt phá nhà cửa, tài sản và các địa điểm tôn giáo, và các cuộc tấn công vào thường dân" do những người định cư thực hiện.

Tại Gaza, Israel tiếp tục tiến hành các cuộc tấn công gần như hàng ngày, bất chấp lệnh ngừng bắn đã có hiệu lực chín tháng trước. Một cuộc tấn công của Israel vào cuối tuần đã giết chết ủy viên cảnh sát ở phía bắc Gaza, trong khi các cuộc tấn công khác của Israel được tường trình đã khiến dân thường thiệt mạng và bị thương.

Israel tuyên bố viên cảnh sát trưởng này là thành viên của tổ chức quân sự Hamas, nhưng Bộ Nội vụ Gaza cho rằng việc Israel tấn công vào các quan chức cảnh sát cao cấp nhằm mục đích gieo rắc "hỗn loạn" trong khu vực.

Hôm Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng cho biết ngài "đang theo dõi với sự lo ngại tình trạng bạo lực tiếp diễn và ngày càng trầm trọng ở Thánh Địa, trong đó nhiều thường dân gần đây đã trở thành nạn nhân, ở Bờ Tây và Gaza."

"Tôi tha thiết kêu gọi quay trở lại đàm phán để tìm ra giải pháp chính trị công bằng dựa trên phẩm giá và quyền bình đẳng của mỗi con người", Đức Lêô cũng nói.

Đức Giáo Hoàng cũng kêu gọi "bác bỏ các hành động quân sự mới và các quyết định đơn phương, đặc biệt là những hành động vi phạm sự tôn trọng và hiện trạng của các thánh địa thuộc mọi tôn giáo."

Iran và khu vực

Các cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào các mục tiêu ở Iran dường như đã "tạm dừng" vào cuối tuần này, sau khi các quan chức quân sự và dân sự cao cấp của Mỹ được tường trình đã bày tỏ lo ngại về một loạt vấn đề, bao gồm kho dự trữ vũ khí của Mỹ và nguy cơ leo thang căng thẳng nghiêm trọng.

Chuỗi 13 đêm tấn công của Mỹ đã gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng điện và nước ở Iran, và dẫn đến các cuộc tấn công trả đũa từ chế độ Hồi giáo, nhắm vào các đồng minh của Mỹ trong khu vực.

Một số cuộc tấn công trả đũa đó nhắm vào cơ sở hạ tầng dân sự ở Kuwait.

Trong khi đó, các quan chức Iran báo cáo tình trạng gián đoạn nguồn nước sinh hoạt đối với hàng ngàn người dân sống tại các làng mạc phụ thuộc vào các cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng bởi các cuộc không kích của Mỹ tại Iran.

Đức Lêô cho biết hôm Chúa Nhật: "Các hoạt động quân sự leo thang đã gây ra bạo lực và tàn phá, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng của nhiều thường dân và làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước uống và điện."

Đức Giáo Hoàng nói: "Từ tận đáy lòng, tôi kêu gọi tất cả các bên liên quan ngừng các cuộc tấn công và khẩn trương mở lại các không gian đối thoại và ngoại giao, để sớm đạt được nền hòa bình mà mọi người mong muốn cho toàn khu vực."

Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi các tín hữu trên toàn thế giới cầu nguyện cho tất cả những người bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

"Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho tất cả các dân tộc trên thế giới đang đau khổ vì chiến tranh," ngài cầu nguyện. "Xin Chúa chạm đến trái tim và soi sáng tâm trí của những người chịu trách nhiệm," Đức Lêô cầu nguyện, "để sự hòa giải và hòa bình sớm được thiết lập."

Lời kêu gọi cứu trợ các vụ cháy rừng ở Âu Châu

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cũng cầu nguyện cho các nạn nhân của các vụ cháy rừng đang hoành hành khắp khu vực tây nam Âu Châu, khiến ít nhất một người thiệt mạng và khoảng 250.000 người khác phải di dời cho đến nay.

"Trước những trận hỏa hoạn tàn khốc đã ảnh hưởng đến nhiều vùng của Pháp và Tây Ban Nha trong những ngày gần đây," Đức Lêô nói, "Tôi bày tỏ sự cảm thông sâu sắc và kêu gọi mọi người cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng và cho công việc của lực lượng cấp cứu."

Diễn biến thời tiết thay đổi liên tục vào cuối tuần đã tạo ra những thách thức rất lớn cho lực lượng cứu hỏa ở cả hai quốc gia.


Source:CRUXNOW